Bản án 507/2020/HS-ST ngày 08/12/2020 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 507/2020/HS-ST NGÀY 08/12/2020 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 08 tháng 12 năm 2020 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 469/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 487/2020/QĐXXST-HS ngày 16/11/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 201/2020/HSST- QĐ ngày 30/11/2020 đối với bị cáo:

Đỗ Trang Ph (tên gọi khác: Đỗ Thị Thùy L), sinh năm 1978, tại An Giang; thường trú: ấp Ph, xã Ph, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: không biết chữ; quốc tịch: Việt N; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa Hảo; con ông: Đỗ Văn M, sinh năm: 1959 và bà Trương Thị Hồng T, sinh năm 1960; bị cáo có 01 con sinh năm 1998; có 03 em ruột: lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1983; tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/8/2020, ngày 05/10/2020 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang bảo lĩnh, có mặt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Đỗ Trang Ph: Ông Đỗ Văn M, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Số A, đường T, trung tâm D, khu phố N, phường D, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Người làm chứng:

1. Phan Thị Kiều L, sinh năm 1992; Vắng mặt.

2. Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1979; Vắng mặt.

3. Nguyễn Văn N, sinh năm 1986; Vắng mặt.

4. Trần Xuân Kh, sinh năm 1989; Vắng mặt.

5. Thái Thị Ch, sinh năm 1973; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Trang Ph (tên thường gọi Đỗ Thị Thùy L) là chủ quán cà phê chòi VTV, tại tổ 02, khu phố Đ, phường T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, hoạt động kinh doanh từ tháng 03/2020. Đỗ Trang Ph tuyển các nhân viên nữ gồm Thái Thị Ch, Phan Thị Kiều L, Nguyễn Thị Tr vào làm việc với thỏa thuận các tiếp viên không được trả lương, tiền thu nhập chủ yếu là do masage kích dục và bán dâm cho khách mà có. Ph quy định mỗi lần massage kích dục Ph thu 50.000 đồng, bán dâm thu 100.000 đồng. Tiếp viên tự thỏa thuận việc mua bán dâm với khách. Địa điểm masage kích dục và bán dâm ngay tại phòng ngủ của quán.

Vào khoảng 14 giờ ngày 18/8/2020 anh Nguyễn Văn N và Trần Xuân Kh vào chòi số 04 quán VTV uống cà phê. Lúc này có tiếp viên Phan Thị Kiều L và Nguyễn Thị Tr bưng nước ra ngồi nói chuyện. Ngồi chơi được một lúc thì anh N và anh Kh hỏi mua dâm, L và Tr đồng ý, hai bên thỏa thuận tiền mua dâm 400.000 một lần, địa điểm ngay tại phòng ngủ phía sau của quán. Thỏa thuận xong, Nguyễn Thị Tr dẫn anh Nguyễn Văn N vào phòng ngủ phía sau của quán quan hệ tình dục. Sau khi quan hệ xong thì đi ra lại chòi số 4 để cho Phan Thị Kiều L và anh Trần Xuân Kh vào quan hệ tình dục. Khi ra lại chòi số 4 Nguyễn Văn N đưa cho Nguyễn Thị Tr số tiền 500.000 đồng, Tr đưa cho Đỗ Trang Ph 200.000 đồng, giữ lại cho mình 300.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An kết hợp với công an phường Tân Đông Hiệp tiến hành kiểm tra hành chính quán cà phê chòi VTV. Qua kiểm tra phát hiện tiếp viên Phan Thị Kiều L và anh Trần Xuân Kh đang thực hiện hành vi mua bán dâm ngay tại phòng ngủ của quán nên lập biên bản, thu giữ 01 bao cao su hiệu Doctor đã qua sử dụng để xử lý theo quy định. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An tiến hành bắt khẩn cấp đối với Đỗ Trang Ph và tiến hành khám xét khẩn cấp quán cà phê VTV thu giữ 20 bao cao su hiệu Doctor chưa qua sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 bao cao su hiệu Doctor đã qua sử dụng, 20 bao cao su hiệu Doctor chưa qua sử dụng, số tiền 200.000 đồng thu của Đỗ Trang Ph, 300.000 đồng thu của Nguyễn Thị Tr.

Đối với người mua dâm Nguyễn Văn N và Trần Xuân Kh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi mua dâm theo điều 22 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Đối với người bán dâm Phan Thị Kiều L và Nguyễn Thị Tr, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 200.000 đồng về hành vi bán dâm theo điều 23 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Đối với số tiền 500.000 đồng cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với 01 bao cao su hiệu Doctor đã qua sử dụng, 20 bao cao su hiệu Doctor chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Tại cáo trạng số 500/CT-VKS ngày 03 tháng 11 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đỗ Trang Ph về tội Chứa mại dâm quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xử phạt bị cáo Đỗ Trang Ph mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm.

Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Luật sư bào chữa cho bị cáo Ph:

Thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo Đỗ Trang Ph của Viện kiểm sát và thống nhất với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ph thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Đỗ Trang Ph không tranh luận, không đối đáp và bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Ph khai lúc 14 giờ ngày 18/8/2020, bị cáo đã sử dụng nơi hoạt động kinh doanh của mình là quán cà phê VTV tại tổ 02, khu phố Đ, phường T, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương để cho tiếp viên của quán là Phan Thị Kiều L và Nguyễn Thị Tr thực hiện hành vi mua bán dâm với khách Nguyễn Văn N, Trần Xuân Kh, giá mua bán hai bên thỏa thuận là 400.000 đồng cho một lần bán dâm. Sau khi bán dâm xong anh Nguyễn Văn N đã đưa cho Phan Thị Kiều L số tiền 500.000 đồng, L đưa cho bị cáo 200.000 đồng, L giữ lại 300.000 đồng, khi Nguyễn Thị Tr và Trần Xuân Kh đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị bắt quả tang. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của chính bị cáo và người làm chứng trong hồ sơ vụ án, biên bản giữ người khẩn cấp, biên bản khám xét, biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Chứa mại dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 500/CT-VKS ngày 03/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Ph là người có trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi con học và nuôi dưỡng cha mẹ già mất khả năng lao động. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

 [7] Xét, bị cáo Ph là người có nhân thân tốt, địa chỉ cư trú rõ ràng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam 48 ngày, thời gian này cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp nên chấp nhận.

[9] Xử lý vật chứng: Đối với số tiền 200.000 đồng Nguyễn Thị Tr đưa cho Đỗ Trang Ph và 300.000 đồng của Nguyễn Thị Tr cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 bao cao su hiệu Doctor đã qua sử dụng, 20 bao cao su hiệu Doctor chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với người mua dâm Nguyễn Văn N và Trần Xuân Kh, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi mua dâm theo điều 22 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Đối với người bán dâm Phan Thị Kiều L và Nguyễn Thị Tr, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An (nay là thành phố Dĩ An) đã ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 200.000 đồng về hành vi bán dâm theo điều 23 Nghị định 167/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Trang Ph phạm tội Chứa mại dâm.

Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự. Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Đỗ Trang Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Trang Ph cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo Ph thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi Hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao cao su hiệu Doctor đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) bao cao su hiệu Doctor chưa qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng.

 (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2020 – BL 126) 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đỗ Trang Ph phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về