Bản án 50/2019/HS-ST ngày 28/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 50/2019/HS-ST NGÀY 28/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hoàng G (tên gọi khác: T), sinh năm 1993 tại Đồng Tháp; nơi cư trú số 72A, ấp Khánh M, xã Tân Khánh T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1970; bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án: 01 - Ngày 17/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Tại Bản án số 12/2015/HSST ngày 17/3/2015) (bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 05/10/2017, đã nộp số tiền thu lợi bất chính 2.100.000 đồng, chưa thi hành xong án phí 200.000 đồng); tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2019 cho đến nay “có mặt”.

2. Vũ Xuân T (tên gọi khác: Thanh T), sinh năm 1990 tại Bình Phước; nơi cư trú ấp 02, xã Tiến H, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vũ X, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị N, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/01/2019 đến ngày 04/5/2019 được tại ngoại “bị cáo có mặt”

Người bị hại: Anh Vũ Thanh H, sinh năm 1974; nơi cư trú khu phố 5, phường Tiến T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH S xuất nhập khẩu Thái H. Địa chỉ số 50 Bàu C, phường 11, quận Tân B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật của Công ty: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1988; nơi cư trú B chung cư cao tầng A số 557, phường Tân T, quận Tân P, thành phố Hồ Chí Minh “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21 tháng 01 năm 2019, Nguyễn Hoàng G chở Vũ Xuân T bằng xe ô tô biển số: 51F-988.04 (xe G hợp đồng thuê của anh Nguyễn Văn Q thuộc Công ty TNHH xuất nhập khẩu Thái H tại thành phố Hồ Chí Minh) đi nhậu và đánh nhau với anh Phạm Văn C tại quán “Hoa R” thuộc khu phố Tân T, phường Tân B, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Sau khi đánh nhau xong, G chở T về phòng trọ của G thuê, tại phường Chánh M, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi khi đến khu phố 5, phường Tiến T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước G phát hiện tại xưởng gỗ có 01 bức tượng gỗ hình Di lặc của anh Vũ Thanh H, G dừng xe và nói “bức tượng đẹp quá” thì T nói “xuống lấy về nhà mà chưng” quan sát không thấy ai nên G đồng ý. Cả hai cùng đi xuống, G đến dùng tay phá cửa và cả hai đi vào khiêng bức tượng hình Di lặc bằng gỗ cho vào xe ô tô, rồi điều khiển về nhà trọ tại phường Chánh M, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đem vào nhà cất giấu. Đến ngày 23 tháng 01 năm 2019 G và T bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Xoài bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp xử lý.

Tại kết luận định giá tài sản số 19/KLGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài kết luận: 01 (một) tượng phật hình Di lặc làm bằng gỗ mít cao 1,74 mét, chiều dài nhất phần gốc dài 1,1 mét; chiều dài nhất phần trên cùng của tượng là 0,6 mét; đường kính ở giữa của tượng là 1,1 mét, có giá trị: 17.200.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã thu giữ: 01 bóp màu nâu trong bóp có 22.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime; thu giữ của G 05 cây bằng kim loại, 07 bịch ớt bột, 02 cái kìm, 01 cái mỏ lết, 11 cuộn băng keo, 01 tua vích, 01 ổ điện màu đen, 01 cuộn dây điện, 01 bịch dây thun màu xanh, 01 máy cắt hiệu total, 01 máy khoan cầm tay hiệu Tubi, 02 biển số xe ô tô 70A-16488; 02 biển số xe ô tô biển số: 61A-71029; 01 biển số xe mô tô 70K1- 37267; 01 xe ô tô biển số: 51F-988.04; 01 xe mô tô biển số: 66G1-188.84; 01 xe mô tô biển số: 39F4-2343; 04 cuộn băng keo 02 mặt màu vàng; 01 cái búa; 01 cây 05 mũi nhọn; 01 ống sắt tròn; 01 lưỡi cưa hiệu Kingroy; 01 càng cua bằng kim loại; 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại dài 25cm; 01 bình xịt hiệu Nato; 01 bình ắc quy hiệu CRV; 01 bình ắc quy màu cam; 01 bình điện màu đen vàng hiệu Pinaca; 01 bình ắc quy hiệu Đồng Nai; 02 cái kích tự chế; 04 súng gỗ tự chế; 01 hộp màu đen có chân sạc; 01 bộ sạc bình ắc quy; 04 cây trụ tròn dài 40cm đầu nối với kim loại; 30 cây gỗ hình trụ; 03 cuộn dây điện; 01 cuộn dây thun màu xanh; 02 bịch khẩu trang y tế màu xám; 01 con chó lông màu vàng đen; 01 bóp da màu đen; giấy phép lái xe tên Nguyễn Hoàng Giang; số tiền 4.431.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Mobel; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9; 01 điện thoại di động Iphone 6 plus.

Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã xử lý vật chứng trả lại cho người quản lý hợp pháp là anh Nguyễn Văn Q 01 xe ô tô biển số: 51F-988.04 và 01 tượng gỗ Di lặc cho anh Vũ Thanh H.

Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKS-ĐX ngày 09/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng G và Vũ Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng G mức án từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Xuân Thanh mức án từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Do người bị hại anh Vũ Thanh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Vũ Xuân T 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung J7 Prime; 01 bóp da màu nâu và số tiền 22.000.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Mobell; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng G và số tiền 4.431.000 đồng.

Đối với số vật chứng được thu giữ còn lại trong quá trình điều tra đề nghị tách ra để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Đồng Xoài xử lý trong các vụ việc liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích và trộm cắp chó của các bị cáo.

Các bị cáo G và T tại phiên tòa đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 63/CT-VKS-ĐX ngày 09/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.

[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp biên bản bắt giữ người phạm tội, biên bản định giá tài sản; kết luận điều tra, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy, phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Lợi dụng việc anh Vũ Thanh H sơ hở trong việc quản lý tài sản nên khoảng 00 giờ 30 phút ngày 21/01/2019 sau khi đánh nhau với anh Phạm Văn C thì Nguyễn Hoàng G điều khiển xe ô tô biển số 51F-988.04 chở Vũ Xuân T về phòng trọ của G tại phường Chánh M, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, khi đi đến địa phận khu phố 5, phường Tiến T, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước phát hiện tại xưởng gỗ anh H có 01 bức tượng gỗ hình Di lặc nên G nói cho T biết thì T nói G xuống lấy về mà chưng thì G lén lút đi đến dùng tay phá cửa và cùng T đi vào khiêng bức tượng hình Di lặc bỏ vào xe ô tô đem về phòng trọ cất giấu.

Tại kết luận định giá tài sản số 19/KLGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đồng Xoài kết luận: 01 (một) tượng phật hình Di lặc làm bằng gỗ mít cao 1,74 mét, chiều dài nhất phần gốc dài 1,1 mét; chiều dài nhất phần trên cùng của tượng là 0,6 mét; đường kính ở giữa của tượng là 1,1 mét, có giá trị: 17.200.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào hành vi các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 17.200.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của những người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo hoàn toàn nhận thức được việc lấy trộm tài sản là hành vi phạm tội nhưng vì mục đích vụ lợi cá nhân mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện nên cần thiết phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nhưng cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo trong việc cá thể hóa hình phạt:

Đối với bị cáo T: Khi bị cáo G phát hiện và nói có bức tượng phật Di lặc, bị cáo đã khởi xướng bằng việc nói G xuống lấy về mà sử dụng, sau khi G xuống phá cửa bị cáo đã cùng G thực hành việc lấy trộm tài sản, do đó cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đê, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo G: Bị cáo là người thực hành tích cực, ngoài việc cạy cửa, bị cáo còn cùng bị cáo T vào khiêng lên xe để cất giấu, bị cáo đã có 01 tiền án: Ngày 17 tháng 03 năm 2015 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, do đó lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng hình phạt là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, do đó cũng cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo: Xét trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Thanh phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do vậy bị cáo Thanh được áp dụng tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Giang được áp dụng tính tiết giảm nhẹ hình phạt theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo Vũ Xuân T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo đã bị tạm giam một thời gian cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tiến H, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đối với hành vi trộm con chó của các bị cáo tại xã Minh H, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài đã có Công văn phối hợp với Công an huyện Dầu Tiếng điều tra xử lý theo quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý.

Đối với hành vi gây thương tích cho Phạm Văn C với tỷ lệ 3% của các bị cáo, anh C đã rút đơn không yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và đã ra quyết định xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn Q cho bị cáo G thuê xe ô tô biển số: 51F-988.04, nhưng anh Q không biết G sử dụng vào việc phạm tội nên không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Do người bị hại anh Vũ Thanh H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng vụ án: Trả lại các vật chứng không liên quan đến vụ án gồm:

-Trả cho bị cáo Vũ Xuân T 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung J7 Prime; 01 bóp da màu nâu đã cũ và số tiền 22.000.000 đồng.

-Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Mobell; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng G và số tiền 4.431.000 đồng.

-Đối với số vật chứng được thu giữ còn lại gồm: 05 cây bằng kim loại, 07 bịch ớt bột, 02 cái kìm, 01 cái mỏ lết, 11 cuộn băng keo, 01 tua vích, 01 ổ điện màu đen, 01 cuộn dây điện, 01 bịch dây thun màu xanh, 01 máy cắt hiệu total, 01 máy khoan cầm tay hiệu Tubi, 02 biển số xe ô tô 70A-16488; 02 biển số xe ô tô biển số: 61A-71029; 01 biển số xe mô tô 70K1-37267; 01 xe ô tô biển số: 51F-988.04; 01 xe mô tô biển số: 66G1-188.84; 01 xe mô tô biển số: 39F4-2343; 04 cuộn băng keo 02 mặt màu vàng; 01 cái búa; 01 cây 05 mũi nhọn; 01 ống sắt tròn; 01 lưỡi cưa hiệu Kingroy; 01 càng cua bằng kim loại; 01 con dao mũi nhọn bằng kim loại dài 25cm; 01 bình xịt hiệu Nato; 01 bình ắc quy hiệu CRV; 01 bình ắc quy màu cam; 01 bình điện màu đen vàng hiệu Pinaca; 01 bình ắc quy hiệu Đồng Nai; 02 cái kích tự chế; 04 súng gỗ tự chế; 01 hộp màu đen có chân sạc; 01 bộ sạc bình ắc quy; 04 cây trụ tròn dài 40cm đầu nối với kim loại; 30 cây gỗ hình trụ; 03 cuộn dây điện; 01 cuộn dây thun màu xanh; 02 bịch khẩu trang y tế màu xám; 01 con chó lông màu vàng đen; 01 bóp da màu đen.

Do số vật chứng này liên quan đến vụ việc các bị cáo trộm cắp chó và gây thương tích nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Xoài tiếp tục xử lý theo quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xử lý trong vụ án này.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng G (tên gọi khác: T), bị cáo Vũ Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

*Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Nguyễn Hoàng G 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 23/01/2019.

*Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Vũ Xuân T 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Tiến Hưng, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Về trách nhiệm dân sự: Do các bên không ai có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về vật chứng của vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Vũ Xuân T 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung J7 Prime (đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 bóp da màu nâu đã cũ và số tiền 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng G 01 điện thoại di động hiệu Mobell; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy S9; 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus (đã cũ, không lên nguồn, không kiểm tra được tình trạng máy móc bên trong); 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Hoàng G và số tiền 4.431.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001686, quyển số 0034, ký hiệu D47/2017 ngày 28/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Xoài).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/10/2018 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo G, Tmỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HS-ST ngày 28/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:50/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về