Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 30 tháng 08 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện DC, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2019 tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2019/QĐXXST-ST ngày 16 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Lê Thị T, sinh năm 1988.(Có mặt)

Trú tại: xóm S, xã DP, huyện DC, tỉnh NA.

- Bị đơn: anh Nguyễn Trần M, sinh năm: 1984. (Có mặt)

Trú tại: xóm S, xã DP, huyện DC, tỉnh NA

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/4/2019 bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Lê Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh M kết hôn với nhau vào ngày 09/4/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã DCt, huyện DC, tỉnh NA. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có tìm hiểu. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đầu sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính tình, quan điểm sống khác nhau. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng là thời gian chị Tsinh con (tháng 2/2015), anh M không quan tâm giúp đỡ, chia sẻ với chị T trong cuộc sống mà còn chửi bới, xúc phạm chị T.

Khong tháng 2/2018 chị Thìn cùng con ra thuê nhà ở riêng, không sống chung với anh M; được một thời gian sau anh M đã ra sống cùng với chị T nhưng vợ chồng vẫn không hòa giải được. Vợ chồng vẫn thường xuyên cãi cọ, xúc phạm nhau. Gần đây nhất là ngày 27/3/2019 anh M đã đánh chị T và đập phá đồ trong nhà. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trần M.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015. Nếu ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 17/6/2019, quá trình tố tụng tại Tòa án bị đơn anh Nguyễn Trần M trình bày:

Về hôn nhân: Anh M và chị T kết hôn vào ngày 09/4/2013, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã DCt. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính tình, quan điểm sống khác nhau dẫn tới vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vạ, xúc phạm nhau. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung nên anh M đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015. Nếu ly hôn anh Mh có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn, chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Căn cứ điều Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn chị Lê Thị T.

Về con chung: Áp dụng điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Giao cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Anh Nguyễn Trần M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T và anh M không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí: Chị Lê Thị T chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật và anh Tú chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Trần M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Trần M có địa chỉ cư trú tại xóm S, xã DP, huyện DC, tỉnh NA. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện DC, tỉnh NA.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Trần M kết hôn với nhau vào kết hôn với nhau vào ngày 09/4/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã DCt, huyện DC, tỉnh NA. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có tìm hiểu. Đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng chị T và anh M xảy ra mẫu thuẫn là do chị T và anh M không hợp tính tình, quan điểm sống khác nhau.Vợ chồng đã được bạn bè và gia đình hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Từ ngày 08/08/2019 đến nay vợ chồng chị T và anh M đã sống ly thân, cắt đứt mõi quan hệ. Sau khi Thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình nhưng chị T vẫn kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trần M. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chị T và anh M đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Và anh M đồng ý ly hôn với chị T. Do đó, cần áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu “Ly hôn” của nguyên đơn chị Lê Thị T.

[3] Về con chung: Vợ chồng 01 con chung là Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015.

Theo anh M nếu Tòa án giao con cho anh anh sẽ gửi con cho mẹ của anh (bà nội của cháu K) chăm sóc, giáo dục cháu K trưởng thành hơn và có môi trường phát triển tốt hơn là giao cháu K cho chị T. Đối với chị T chị không đồng ý giao con cho anh M để anh giao cho bà nội (mẹ anh M) trực tiếp nuôi dưỡng vì chị tin chị sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tốt hơn anh M khi anh giao con cho bà nội.

Xét thấy anh M và chị T đều có công ăn việc làm và có nơi sinh sống ổn định. Nên đều có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tuy nhiên xét cháu K hiện tại hơn 4 tuổi cần sự chăm sóc đặc biệt của người mẹ để đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu K về mọi mặt.

Ngoài ra theo quy định pháp luật bảo vệ bà mẹ là bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ như quyền sinh con; chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần phải giao cháu Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Trần M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M.

[4] Về quan hệ tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

[5] Về án phí: chị Lê Thị T phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị T và anh Nguyễn Trần M.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Lê Minh K, sinh ngày 08/01/2015 cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh M. Anh Nguyễn Trần M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về tài sản và nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện DC theo biên lai số 0004594 ngày 09/4/2019. Chị T đã nộp đủ án phí.

5. Về Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


62
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về