Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/11/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 25 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 05/9/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2019/QĐXX-ST ngày 28/10/2019 giữa các đương sự

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D - Sinh năm 1995. (Có mặt)

Bị đơn: Anh Quách Văn L - Sinh năm 1989. (Vắng mặt lần thứ hai)

Cùng địa chỉ: Làng N, xã NA, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 20/8/2019, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Bùi Thị D trình bày: Chị và anh Quách Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 06/5/2014 tại UBND xã NA, huyện NL, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L không tu trí làm ăn, không quan tâm đến vợ con và gia đình, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng kể từ đầu năm 2018, khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình giàn xếp, hòa giải nhiều lần, nhưng không có kết quả, nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân kể từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai, Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Quách Văn L theo quy định của pháp luật. Về con cái: Chị và anh Quách Văn L có 01 con chung là Quách Thị Ánh T - Sinh ngày 27/9/2014, kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị là người nuôi dưỡng cháu Quách Thị Ánh T. Nay vợ chồng ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết giao cháu Quách Thị Ánh T cho chị chăm sóc nuôi dưỡng và chị tự nguyện không yêu cầu anh Quách Văn L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Chị tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Quách Văn L có mặt theo địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện, khi Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án cho anh L, thì không gặp được anh L, Tòa án đã giao các loại văn bản tố tụng cho bà Bùi Thị N là mẹ đẻ của anh Quách Văn L, theo trình bày của bà Bùi Thị N, sau khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, bà đã thông báo về nội dung các văn bản của Tòa án cho anh L biết, nhưng anh L không về giải quyết việc chị D khởi kiện ly hôn, mà chỉ gửi cho bà biên bản kiến nghị đề ngày 20/9/2019 và nhờ bà giao nộp cho Tòa án, tại biên bản kiến nghị anh Quách Văn L trình bày: Việc kết hôn là do hai bên tự nguyện, chị D bỏ về nhà bố mẹ đẻ và làm đơn ly hôn không bàn bạc với anh, nên anh không đồng ý ly hôn, trường hợp ly hôn anh xin được nuôi con. Theo xác nhận của chính quyền địa phương anh L đi làm ở các tỉnh phía nam, nhưng vẫn thường xuyên về nhà. Việc chị Bùi Thị D khởi kiện ly hôn anh Quách Văn L đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết. Tòa án xét thấy việc anh Quách Văn L vắng mặt thuộc trường hợp bị đơn cố tình lẫn tránh vắng mặt, nên tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ khi thụ lý cho đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện việc tuân theo pháp luật phù hợp với quy định của pháp luật, việc bị đơn vắng mặt tại Tòa án là bị đơn tự bỏ đi quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Quách Văn L và giao cháu Quách Thị Ánh T cho chị Bùi Thị D nuôi dưỡng chăm sóc, chấp nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh Quách Văn L cấp dưỡng nuôi con và miễn án phái cho chị Bùi Thị D theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định.

[1]. Về hôn nhân: Căn cứ lời trình bày của chị Bùi Thị D và giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Quách Văn L và chị Bùi Thị D, đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét nguyện vọng ly hôn của chị Bùi Thị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh L trình bày không đồng ý ly hôn, nhưng anh L không tham gia phiên hòa giải, không tham gia phiên tòa, điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị D. [2]. Về con chung: Căn cứ lời trình bày của chị Bùi Thị D và giấy khai sinh của cháu Trúc đủ cơ sở xác định chị Dậu và anh Luân có 01 con chung là Quách Thị Ánh T - Sinh ngày 27/9/2014. Xét đề nghị xin được nuôi con và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Bùi Thị D thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Luân xin được nuôi con, nhưng anh L không tham gia phiên họp, phiên hoà giải, không tham gia phiên tòa, nên không có căn cứ giao con cho anh L, chấp nhận đề nghị của chị D là phù hợp.

[3]. Về tài sản: Chị D không đề nghị Toà án giải quyết và anh L cũng không có ý kiến về tài sản, nên về phần tài sản Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về trình tự thủ tục giải quyết vắng mặt anh Quách Văn L Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong đơn khởi kiện chị D ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện là anh Quách Văn L, việc anh L vắng mặt không tham gia phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa là thuộc trường hợp bị đơn cố tình lẫn tránh vắng mặt, Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung là phù hợp với quy định tại Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án.

[5]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử xét thấy: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.

[6]. Về án phí: Chị Bùi Thị D là thành viên trong hộ nghèo theo quy định của Chính phủ, nên miễn án phí cho chị D theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Bùi Thị D.

* Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn anh Quách Văn L.

* Về con chung: Giao cháu Quách Thị Ánh T - Sinh ngày 27/9/2014 cho chị Bùi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị D về việc không yêu cầu anh Quách Văn L cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Quách Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, ngăn cấm.

* Về án phí: Chị Bùi Thị D là thành viên trong hộ nghèo theo quy định của Chính phủ, chị Bùi Thị D khởi kiện vụ án dân sự ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Chị Bùi Thị D đã được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị D đươc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Quách Văn L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


39
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 25/11/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Lặc - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về