Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH N

BẢN ÁN 50/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/04/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 04 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2018/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2018. Về vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đinh, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Phan Thị L - Sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu phố 10, thị trấn R, huyện N, tỉnh N.

+ Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ngh - Sinh năm 1986

Địa chỉ: Khu phố 10, thị trấn R, huyện N, tỉnh N.

Tại phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh Ngh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện lập ngày 04/12/2018 cũng như lời khai của chị Phan Thị L trong quá trình giải quyết trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Ngh vào tháng 9/2005, trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R, huyện N, tỉnh N. Sau khi kết hôn chị và anh Ngh chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011 thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc  sống, ngoài ra còn do anh Ngh thiếu trách nhiệm với gia đình và sống không chung thủy với chị nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ năm 2017 đến nay chị và anh Ngh sống ly thân nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Ngh không còn nên chị xin được ly hôn anh Nguyễn Văn Ngh. Về con chung giữa chị và anh Nguyễn Văn Ngh có ba con chung là Nguyễn Phan Tuấn Trsinh ngày 18/3/2006, Nguyễn Tiến M sinh ngày 21/6/2010 và Nguyễn Phan Kiều L sinh ngày 25/10/2016, hiện chị đang nuôi dưỡng các con chung. Nay chị xin được tiếp tục trực tiếp nuôi ba con chung và chị có đủ điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng tốt các cháu nên chị không yêu cầu anh Ngh phải cấp dưỡng các con chung cùng chị. Về tài sản chung giữa chị và anh Ngh thì chị không yêu cầu giải quyết. Về án phí chị đề Ngh giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Ngh vắng mặt nhưng có lời khai của ông Nguyễn Văn H là bố đẻ của anh Ngh trình bày: Anh Nguyễn Văn Ngh kết hôn với chị Phan Thị L vào năm 2005, quá trình chung sống thì vợ chồng anh chị có mâu thuẫn là do anh Ngh đi làm ăn nhưng không gửi tiền về để chị L nuôi con, gia đình ông khuyên giải thì anh Ngh bảo đó là việc riêng của vợ chồng anh Ngh. Nay chị Lcó đơn xin ly hôn anh Ngh và Tòa án giao các văn bản tố tụng cho anh Ngh nhưng anh Ngh vắng mặt nên ông đã nhận thay và giao cho anh Ngh đẩy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án. Anh Ngh có ý kiến với ông để trình bày với Tòa án là chị L xin ly hôn anh Ngh thì anh Ngh cũng nhất trí; về con chung thì anh Ngh và chị L có ba con chung là Nguyễn Phan Tuấn Tr sinh ngày 18/3/2006, Nguyễn Tiến M sinh ngày 21/6/2010 và Nguyễn Phan Kiều L sinh ngày 25/10/2016, nay chị L nhận nuôi cả ba con chung và không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con chung thì anh Ngh cũng đồng ý; về tài sản thì anh Ngh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và trên cơ sở tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn Ngh đều cư trú tại khu phố 10 thị trấn R, huyện N, tỉnh N. Chị L có đơn xin ly hôn anh Ngh và Tòa án nhân dânhuyện N thụ lý giải quyết  vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn Nghvắng mặt nhưng Tòa án đã tống đạt cho anh Ngh giấy triệu tập phiên tòa hợp lệ lần thứ hai. Do vậy Tòa án nhân dân huyện N xét xử vắng mặt Ngh là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

 [2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa Phan Thị L và anh Nguyễn Văn Ngh được tổ chức kết hôn vào tháng 9/2005, trên có sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn R là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị L và anh Ngh chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2011. Sau mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do hai bên không hợp tính nhau và do chị L nghi ngờ anh Ngh sống không chung thủy với chị L. Hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị Lvà anh Ngh không được cải thiện. Từ năm 2017 đến nay chị L và anh Ngh sống ly thân nhau. Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh Ngh đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, nay chị L xin ly hôn anh Ngh nên chấp nhận là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn Ngh có ba con chung là Nguyễn Phan Tuấn Tr sinh ngày 18/3/2006, Nguyễn Tiến M sinh ngày 21/6/2010 và Nguyễn Phan Kiều L sinh ngày 25/10/2016, hiện đang do chị L nuôi dưỡng. Nay chị L xin được tiếp tục trực tiếp nuôi cả ba con chung và không yêu cầu anh Ngh cấp dưỡng nuôi con cùng chị Lvà anh Ngh cũng nhất trí nên chấp nhận là phù hợp.

[4] Về tài sản: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn Ngh không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm Phạm Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147; 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban  Thường vụ Quốc hội.

1- Xử ly hôn giữa chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn Ngh.

2- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Phan Tuấn Tr sinh ngày 18/3/2006, cháu Nguyễn Tiến M sinh ngày 21/6/2010 và cháu Nguyễn Phan Kiều L sinh ngày 25/10/2016 cho chị Phan Thị L trực tiếp nuôi dưỡng (chị Phan Thị L đang quản lý nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Phan Tuấn Tr, Nguyễn Tiến M và Nguyễn Phan Kiều L). Anh Nguyễn Văn Ngh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phan Thị L đối với các cháu Nguyễn Phan Tuấn Tr, Nguyễn Tiến M và Nguyễn Phan Kiều L. Không ai được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung.

3- Án phí dân sự sơ thẩm chị Phan Thị L phải nộp 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm chị Phan Thị L đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số: BB/2012/06357 ngày 20/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N. Chị Phan Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho chị L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Ngh có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:50/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Phước - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:04/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về