Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 18/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 18 tháng 9 năm 2019, tại hội trường Tòa án huyện Diễn Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 130/2019/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1987. Vắng mặt. Địa chỉ: Khối A, thị trấn DC, huyện DC, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09/9/2019)

Bị đơn: anh Hoàng Văn H, sinh năm 1987. Vắng mặt. Địa chỉ: Khối A, thị trấn DC, huyện DC, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 24/7/2019)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Hoàng Quốc Đ, sinh năm 1950. Vắng mặt. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1956. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã ND, huyện TK, tỉnh Nghệ An.

(Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 09/9/2019)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/7/2019, đơn sửa đổi bổ sung yêu cầu khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Đặng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau vào ngày 29/9/2009 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã ND, huyện TK, tỉnh Nghệ An. Ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh H chơi bời lêu lổng, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã xô xát nhau nên vợ chồng sống ly thân từ giữa năm 2017 đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay chị Đặng Thị H xin ly hôn anh Hoàng Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 04/8/2012. Ly hôn chị Đặng Thị H xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về quan hệ tài sản: Vợ chồng chị H có ở nhờ trên nhà và thửa đất số 119 tờ bản đồ số 01 diện tích 134,4m2 tại khối A, thị trấn DC, huyện DC tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX629161 mang tên ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V, nhà và đất là của ông Đ và bà V chị H không có công xây dựng hay bảo quản gì khác. Ly hôn ông Đ, bà V, chị H thỏa thuận chị H trả lại nhà và đất trên cho ông Đ và bà V. Ông Đ bà V hỗ trợ tạo dựng nơi ở mới cho chị Đặng Thị H số tiền 170.000.000đ. Chị H đề nghị Tòa án ghi nhận nội dung tự thỏa thuận về tài sản trong quyết định Tòa án.

Tại đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày24/7/2019 bị đơn anh Hoàng Văn H trình bày.

- Về hôn nhân: Anh Hoàng Văn H thống nhất với nội dung quá trình kết hôn như chị Đặng Thị H trình bày là đúng. Vợ chồng chung sống với nhau có nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng cãi vã, xảy ra xô xát lẫn nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị Đặng Thị H xin ly hôn thì anh Hoàng Văn H cũng nhất trí ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 04/8/2012. Ly hôn anh H đồng ý giao con chung cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

- Về quan hệ tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ tài sản chung vợ chồng. Anh H thống nhất với thỏa thuận của chị H với ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V (bố mẹ anh H) về việc hỗ trợ tạo dựng nơi ở mới cho chị Đặng Thị H như yêu cầu của chị H.

Anh Hoàng Văn H đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và giấy triệu tập của Tòa án nhưng do phải đi làm xa không có mặt tham gia phiên tòa. Anh H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V thống nhất trình bày:

Ông Đ và bà V có thửa đất và căn nhà gắn liền với thửa đất số 119 tờ bản đồ số 01 diện tích 134,4m2 tại khối A, thị trấn DC, huyện DC tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX629161 mang tên ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V. Chị H và anh H được ông bà cho ở trên thửa đất. Nay chị H và ông bà thỏa thuận chị H giao lại nhà và đất cho ông Đ bà V, ông Đ bà V hỗ trợ tạo dựng nơi ở mới cho chị H số tiền 170.000.000đ. Ông Đ và bà V đề nghị Tòa án ghi nhận sự tự thỏa thuận trong quyết định của Tòa án. Ông Đ và bà V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông bà.

Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Hoàng Thị Thu H: Cháu H có nguyện vọng được ở với chị Đặng Thị H.

- Ý kiến phát biểu của kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử: Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đầy đủ các quy định tại các Điều 35, 39, 68, 95, 171, 196, 198, 203, 204, 205, 208, 210, 220 của BLTTDS. Tại phiên tòa HĐXX tuân thủ đầy đủ các quy định tại các Điều 243, 250, 251, 252, 253, 258, 260, 262, 263 của BLTTDS.

Các đương sự chấp hành đầu đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

-Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đại diện VKS đề nghị hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, 35, 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của BLTTDS. Khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147 BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí lệ phí tòa án.

Đề nghị HĐXX tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Đặng Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Thị Thu H cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H. Anh Hoàng Văn H có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: Ghi nhận sựt thỏa thuận giữa chị H, anh H, ông Đ, bà V về việc trích giao số tiền 170.000.000đ để chị H tạo dựng nơi ở mới và chị H có nghĩa vụ giao lại nhà và đất cho ông Đ bà V.

4. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Hương đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn anh Hoàng Văn H có nơi cư trú tại khối A, thị trấn DC, huyện DC, tỉnh Nghệ An, căn cứ vào khoản 1 Điều 39 của BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu - Nghệ An. Nguyên đơn chị Đặng Thị H, bị đơn anh Hoàng Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 của BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2]. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Hoàng Văn H kết hôn với nhau vào ngày 29/9/2009 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã ND, huyện TK, tỉnh Nghệ An. Đây là hôn nhân hợp pháp. Ban đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2017 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã, đến mức xảy ra xô xát. Chị Đặng Thị H và anh Hoàng Văn H đều thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Đặng Thị H và anh Hoàng Văn H được ly hôn.

[3]. Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 04/8/2012. Hiện nay con chung đang ở với chị H. Quá trình chị H nuôi dưỡng cháu H việc học tập, phát triển của cháu được đảm bảo. Anh H thống nhất việc giao con cho chị H nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con cung cần phải căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu H. Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh H do chị H chưa yêu cầu. Anh Hoàng Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4]. Về quan hệ tài sản: Chị Đặng Thị H và ông Hoàng Quốc Đ, bà Nguyễn Thị V và anh Hoàng Văn H đề nghị Tòa án ghi nhận thỏa thuận về giải quyết tài sản như sau: Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V thửa đất số 119 tờ bản đồ số 01 diện tích 134,4m2 tại khối A, thị trấn DC, huyện DC tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX629161 mang tên ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V. Ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V hỗ trợ tạo dựng nơi ở mới cho chị Đặng Thị H số tiền 170.000.000đ. Việc tự thỏa thuận của chị H, ông Đ và bà V hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Anh Hoàng Văn H cũng nhất trí với sự thỏa thuận về tài sản giữa chị H với ông Đ và bà V. Do đó, cần căn cứ vào Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình ghi nhận sự thỏa thuận về tài sản trong quyết định của Tòa án.

[5]. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về giải quyết quan hệ tài sản trước khi Tòa án tiến hành hòa giải do đó không phải chịu án phí về tài sản.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56,59, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Đặng Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Hoàng Thị Thu H, sinh ngày 04/8/2012 cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Hoàng Văn H. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về quan hệ tài sản: Ghi nhận sự tự thỏa thuận giữa chị H, anh H, ông Đ, bà V về giải quyết quan hệ tài sản như sau: Chị Đặng Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V thửa đất số 119 tờ bản đồ số 01 diện tích 134,4m2 ti khối A, thị trấn DC, huyện DC tỉnh Nghệ An đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX629161 mang tên ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V. Ông Hoàng Quốc Đ và bà Nguyễn Thị V hỗ trợ tạo dựng nơi ở mới cho chị Đặng Thị H số tiền 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng). (Các đương sự đã tự nguyện giao tiền và trả nhà ngày 13/8/2019).

4. Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại chị cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai số AA/2018/0004724 ngày 22/7/2019.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Đặng Thị Hương, Bị đơn anh Hoàng Văn Hưng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Quốc Đạt và bà Nguyễn Thị Vinh vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

196
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 18/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về