Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 148/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T, sinh năm 1988; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã K, huyện T, thành phố H; nơi ở hiện nay: Thôn B, xã K, huyện T, thành phố H; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1980; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã K, huyện T, thành phố H; hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 4, điểm sản xuất số 3, trại giam X; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/01/2019 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị T và anh Nguyễn Văn Q kết hôn với nhau vào năm 2007 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố H. Sau cưới, vợ chồng đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn A, xã K. Quá trình chung sống có 03 con chung, đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q cờ bạc và nghiện ma túy, chị tham gia khuyên bảo nhưng anh Q không sửa chữa. Ngày 20 tháng 8 năm 2015, anh Q vi phạm pháp luật, bị bắt giam và bị kết án 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, hiện anh Q đang chấp hành án tại trại giam X. Nay chị xác định không còn tình cảm, hôn nhân không có hạnh phúc nên chị đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh Q.

Tại văn bản ghi ý kiến ngày 25/3/2019, bị đơn là anh Nguyễn Văn Q trình bày: Công nhận lời trình bày của chị T về thời gian và nơi đăng ký kết hôn như trên là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc và có 03 con chung, đến tháng 8 năm 2015 anh vi phạm pháp luật, bị bắt giam và bị kết án 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, hiện anh đang chấp hành án tại đội 4, điểm sản xuất số 3, trại giam X. Nay chị T xin ly hôn, anh đồng ý ly hôn với chị T.

2. Về con chung:

Chị T trình bày chị và anh Q có 03 con chung tên là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 06/6/2008, Nguyễn Văn T sinh ngày 18/10/2009 và Nguyễn Anh K sinh ngày 09/3/2015. Chị trực tiếp nuôi 03 con từ khi anh Q bị bắt giam cho đến nay, các con đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi 03 con. Cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu anh Q phải có nghĩa vụ.

Anh Q công nhận anh và chị T có 03 con chung như chị T trình bày và lời trình bày về con chung của chị T như trên là đúng. Do anh hiện đang phải chấp hành án phạt tù, không có khả năng nuôi con. Khi ly hôn, anh đề nghị để chị T tiếp tục nuôi 03 con, sau khi chấp hành án xong trở về gia đình và địa phương anh sẽ làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau.

3. Về tài sản chung:

Chị T và anh Q thống nhất trình bày vợ chồng có tài sản chung, để tự giải quyết với nhau nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng, đương sự chấp hành pháp luật. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Q; về con chung: Giao cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi ba con chung tên là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 06/6/2008, Nguyễn Văn T sinh ngày 18/10/2009 và Nguyễn Anh K sinh ngày 09/3/2015 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Bùi Thị T và bị đơn là anh Nguyễn Văn Q vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Văn Q đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 10 đăng ký ngày 05/3/2007 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố H). Căn cứ vào lời khai của đương sự và tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Tháng 6 năm 2014, anh Q vi phạm pháp luật, bị bắt giam và bị kết án phạt tù, hiện đang chấp hành án tại trại giam. Anh Q đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Chị T yêu cầu ly hôn, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh Q.

[3]. Về con chung: Chị T và anh Q có ba con chung tên là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 06/6/2008, Nguyễn Văn T sinh ngày 18/10/2009 và Nguyễn Anh K sinh ngày 09/3/2015. Việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và xem xét nguyện vọng của con chưa thành niên. Xét thấy, chị T trực tiếp nuôi ba con từ khi anh Q bị bắt giam cho đến nay, việc nuôi con đã ổn định và được đảm bảo tốt về mọi mặt, khi ly hôn chị T đề nghị được tiếp tục nuôi ba con, anh Q đồng ý, mặt khác hai con tên Nguyễn Thị Thanh T và Nguyễn Văn T đều có nguyện vọng được ở với chị T. Do vậy, cần giao ba con chung cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T không yêu cầu anh Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị và không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Q hiện đang chấp hành án phạt tù, không có khả năng cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung: Chị T và anh Q thống nhất trình bày vợ chồng có tài sản chung, để tự giải quyết với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

[6]. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn Q.

2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị T trực tiếp nuôi ba con chung tên là Nguyễn Thị Thanh T sinh ngày 06/6/2008, Nguyễn Văn T sinh ngày 18/10/2009 và Nguyễn Anh K sinh ngày 09/3/2015 cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000397 ngày 05/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H. Chị Bùi Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về