Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 01/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 49/2019/HNGĐ-ST NGÀY 01/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 01 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1183/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị K; ĐKHKTT: Thôn Ngọc Trà 2, xã Q Tr, huyện Q X, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Thôn 1, xã Ph, huyện TN, thành phố Hải Phòng, có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh LEE KYUNG S; nơi cư trú: Hàn Quốc, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị K trình bày: Chị và anh LEE KYUNG S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10 tháng 6 năm 2016. Sau đó anh LEE KYUNG S làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang Hàn Quốc để vợ chồng đoàn tụ. Quá trình chung sống tại Hàn Quốc giữa chị và anh LEE KYUNG S thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, văn hóa nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Ngoài ra chị còn mâu thuẫn với cả bố mẹ chồng tại Hàn Quốc. Bản thân chị cũng đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để hòa giải với anh LEE KYUNG S nhưng không có kết quả. Đến cuối năm 2016, chị về Việt Nam cũng kể từ đó giữa chị và anh LEE KYUNG S không còn liên lạc với nhau nữa. Nay chị xét tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh LEE KYUNG S.

Về nuôi con và tài sản chung: Chị và anh LEE KYUNG S không có con chung, tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong đơn xin ly hôn gửi về Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, bị đơn là anh LEE KYUNG S trình bày: Anh thống nhất với chị Lê Thị K về quá trình kết hôn, về con chung, về tài sản chung cũng như nguyên nhân dẫn đến mâu thuân vợ chồng. Nay anh LEE KYUNG S cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh sớm được ly hôn với chị Lê Thị K để mỗi người ôn đinh cuộc sống mới.

Do anh LEE KYUNG S đang ở nước ngoài và không yêu cầu hòa giải nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa: Chị Lê Thị K có mặt vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn xin ly hôn và các bản tự khai. Anh LEE KYUNG S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10 tháng 6 năm 2016, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp. Vụ án có đương sư ở nước ngoài, theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Anh LEE KYUNG S vắng mặt tại phiên tòa, anh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Lê Thị K nhận văn bản tố tụng của Tòa án cho anh. Tài liệu của anh đã được Đại sứ quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hàn Quốc chứng nhận . Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh LEE KYUNG S .

[3] Về hôn nhân: Lời khai của chị Lê Thị K thống nhất với lời khai của anh LEE KYUNG S về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, đồng thời lời khai của anh chị cũng phù hợp với ý kiến của đại diện gia đình. Do đó, có cơ sở xác định cuộc sống chung giữa chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S do bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, văn hóa nên hai bên không tìm được tiếng nói chung. Bản thân cả anh chị cũng đã cố gắng khắc phục nhưng không có kết quả. Ngày cuối năm 2016, chị Lê Thi K đã bỏ về Việt Nam, hai bên không còn quan tâm đến nhau cả về tình cảm và kinh tế . Nay tình cảm vợ chồng không còn. Như vây , mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, việc chị Lê Thị K xin ly hôn là hoàn toàn chính đáng, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình châp nhân đê nghi xin ly hôn của chị Lê Thị K.

[4] Về nuôi con và chia tài sản: Chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S cùng khai thống nhất không có con chung , tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị K là nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo của các đương sự: Chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2, khoản 4 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị K được ly hôn với anh LEE KYUNG S.

2. Về nuôi con, chia tài sản: Chị Lê Thị K và anh LEE KYUNG S không có con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Lê Thị K phải chịu 300.000 đông (ba trăm nghin đông ) án phí ly hôn sơ thâm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai số 0001658 ngày 12 tháng 3 năm 2019 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị K đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Lê Thị K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh LEE KYUNG S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

302
  • Tên bản án:
    Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 01/04/2019 về ly hôn
  • Số hiệu:
    49/2019/HNGĐ-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Hôn Nhân Gia Đình
  • Ngày ban hành:
    01/04/2019
  • Từ khóa:
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2019/HNGĐ-ST ngày 01/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:49/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 01/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về