Bản án 49/2017/HSST ngày 28/12/2017 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

BẢN ÁN 49/2017/HSST NGÀY 28/12/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST, ngày 03 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo: TRẦN PH (Tên gọi khác: Trần Thanh Ph) - sinh ngày 16/01/1974 tại Thái Nguyên; Trú tại: tổ 02, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Cán bộ; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Trần K và bà Ma Thị Đ; có vợ là: Trịnh Thị H và 02 (Hai) con; tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giam ngày 20/6/2017. Có mặt tại phiên toà.

* Những người làm chứng: 1. Đỗ Văn H1 – Sinh năm 1988. Trú tại: thôn Nà Lẹng, xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

2. Hoàng Thế L– sinh năm 1989. Trú tại: tổ 14, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

(Tất cả những người làm chứng, Tòa không triệu tập).

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Ph (tức: Trần Thanh Ph) bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 11h20’ ngày 20/6/2017, tại tổ 17, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Kạn phát hiện và bắt quả tang Đỗ Văn H1 – trú tại: thôn Nà Lẹng, xã Sỹ Bình, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn và Hoàng Thế L – trú tại: tổ 14, phường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần bên phải đang mặc của Đỗ Văn H1 01 (Một) gói chất bột màu trắng, có trọng lượng 0,06 gam, trong túi quần bên phải đang mặc của Hoàng Thế L 02 xi lanh nhựa và 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng.

Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L khai nhận: gói nhỏ chứa chất bột màu trắng đã bị cơ quan công an phát hiện và thu giữ nói trên là ma túy (Hêrôin) do trước đó vào khoảng 10 giờ cùng ngày 20/6/2017 H1 và L cùng góp tiền (mỗi người 100.000đ) và cùng nhau đi mua ma túy của một người tên là Trần Ph (tên gọi khác là Trần Thanh Ph – trú tại tổ 02, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn; làm việc ở Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn) với giá 200.000đ, địa điểm mua tại khu vực hàng rào trước cổng Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ 4, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Mục đích H1 và L mua ma túy về để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện thu giữ.

Ngoài ra, Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L còn khai nhận trước đó vào khoảng 15h00’ ngày 19/6/2017 H1 và L đã cùng nhau góp tiền (mỗi người 100.000đ) rồi cùng đi mua 01 gói ma túy (Hêrôin) với giá 200.000đ của Ph tại khu vực cổng Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ 5, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, sau đó H1 và L đã mang đi sử dụng hết.

Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Bắc Kạn đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ làm việc của Trần Ph tại trụ sở Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn thuộc tổ 4, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn và khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Ph tại tổ 2, phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Kết quả: thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA X1 vỏ màu đỏ đen đã qua sử dụng, 01 mảnh giấy màu trắng kích cỡ khoảng 04cm x 05 cm dưới đệm giường ngủ và số tiền 1.835.000đ, tạm giữ 01 xe mô tô hiệu HONDA DREAM II BKS 97B1 – 27916 màu nâu của Trần Ph.

Tại cơ quan điều tra, Trần Ph khai nhận được 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 15h00’ ngày 19/6/2017, khi Ph đang ở cơ quan thì H1 gọi điện từ số thuê bao của H1 là 0965.441.224 đến số điện thoại 01646.029.177 của Ph hỏi mua ma túy (Hêrôin). Ph đồng ý và hẹn gặp H1 tại khu vực cổng Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Bắc Kạn. Khi được Ph đồng ý, H1 và L góp mỗi người 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), H1 là người cầm tiền, rồi cùng nhau đến chỗ hẹn với Ph. Khi H1 và L tới nơi, Ph đã đứng đợi sẵn từ trước. Tại đây, H1 đưa cho Ph số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Ph cầm tiền và đưa cho H1 01 gói ma túy (Hêrôin), sau đó Ph quay về cơ quan làm việc.

Lần 2: Khoảng hơn 10h00’ ngày 20/6/2017, khi Ph đang ở cơ quan thì H1 tiếp tục dùng số thuê bao 0965.441.224 của H1 gọi điện vào số điện thoại 01646.029.177 của Ph hỏi mua ma túy (Hêrôin). Khi được Ph đồng ý và hẹn gặp tại khu vực trước cổng Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn, H1 và L cùng nhau góp mỗi người 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), H1 là người cầm tiền, rồi cùng nhau đến chỗ hẹn với Ph. Khi đến nơi, H1 tiếp tục gọi điện cho Ph nói là đã đến chỗ hẹn. Ph đi từ phòng làm việc ra khu vực cổng Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn đứng bên trong hàng rào, còn H1 đứng bên ngoài hàng rào cơ quan. Tại đây, H1 đưa cho Ph số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng), Ph cầm tiền và đưa cho H1 01 gói ma túy (Hêrôin), sau đó Ph quay về cơ quan làm việc, còn H1 và L đến khu vực tổ 17, phường Nguyễn Thị Minh Khai để sử dụng ma túy.

Tại thông báo kết quả giám định số: 94/KTHS - MT ngày 07/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn, kết luận: mẫu chất bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu M1 thu giữ của Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L gửi đến giám định là chất ma túy (Hêrôin).

Tại bản cáo trạng số: 43/KSĐT, ngày 02 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn - Bắc Kạn đã truy tố đối với Trần Ph (tức: Trần Thanh Ph) về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2, điều 194/BLHS.

* Điều luật có nội dung: “1. Người nào…mua bán trái phép…chất ma tuý thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a)…

b) Phạm tội nhiều lần...”

Tại phiên toà: - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ph.

- Bị cáo Ph thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như Viện kiểm sát đã truy tố.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Với mục đích kiếm lời, Trần Ph đã bán trái phép chất ma túy cho những người nghiện, trong tháng 6/2017 trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, Trần Ph đã nhiều lần bán trái phép chất ma tuý cho Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L, cụ thể như sau:

- Khoảng 15h00’ ngày 19/6/2017 tại khu vực cổng Sở Văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Bắc Kạn, bán Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L 01 (Một) gói ma túy (Hêrôin) với giá 200.000đ (Hai trăm ngìn đồng). Trong số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) có của H1 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và của L 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

- Khoảng hơn 10h00’ ngày 20/6/2017 tại khu vực cổng Sở Xây dựng tỉnh Bắc Kạn, bán Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L 01 (Một) gói ma túy (Hêrôin) với giá 200.000đ (Hai trăm ngìn đồng). Trong số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) có của H1 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và của L 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).

Trần Ph đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 vỏ màu đỏ đen đã qua sử dụng để làm phương tiện liên lạc bán trái phép chất ma túy.

Tổng số tiền bị cáo Ph bán trái phép chất ma tuý cho H1 và L là: 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo Trần Ph về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b, khoản 2, điều 194/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm gia tăng tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:

Bị cáo Ph có nhân thân tốt: không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo trong thời gian công tác nhiều năm được tặng danh hiệu lao động tiên tiến, vợ bị cáo là chị Trịnh Thị H được tặng danh hiệu lao động tiên tiến, bị cáo có bố mẹ đẻ là ông Trần K và bà Ma Thị Đ đều được tặng huy chương kháng chiến - theo quy định tại điểm p, khoản 1, khoản 2, Điều 46/BLHS.

Trong vụ án này có các đối tượng nghiện chất ma tuý là Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L đã mua ma tuý với Trần Ph về sử dụng. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã xử lý đối với các đối tượng này theo quy định của pháp luật.

Vật chứng: - 01 (Một) phong bì niêm phong có chữ ký của Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L, có 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định 0,020 gam cùng phong bì và bao gói cũ; 02 xi lanh nhựa và 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 01 (Một) mảnh giấy màu trắng kích thước 04cm x05cm: tất cả không có giá trị, tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu  đỏ, đen đã qua sử dụng:

Là phương tiện phạm tội, tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

- Tiền mặt: 1.835.000đ (Một triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng), trong đó có:

+) 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do bán ma túy mà có: tịch thu sung quỹ nhà nước.

+) Số còn lại: 1.635.000đ (Một triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng): tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo – thừa trả cho bị cáo Ph.

- Truy thu đối với Trần Ph số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Việc thi hành án khoản tiền truy thu được thực hiện theo quy định tại Điều 357/BLDS năm 2015.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra có tạm giữ 01 chiếc xe mô tô hiệu HONDA DREAM II BKS 97B1 – 27916 màu nâu. Tuy nhiên, quá trình điều tra xác định được chiếc xe này là tài sản chung của hai vợ chồng Trần Ph và chị Trịnh Thị H. Ph  không sử dụng chiếc xe này để làm phương tiện bán ma túy cho H1 và L, nên ngày 03/7/2017, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe này cho chị Trịnh Thị H là đúng quy định.

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Ph khai mua với một người đàn ông tên T  (không rõ địa chỉ) tại khu vực cầu Bắc Kạn thuộc tổ 01, phường Sông Cầu, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên quá trình điều tra, không xác định được danh tính, địa chỉ cụ thể của người đàn ông tên T nên không đủ căn cứ để xử lý.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có tài sản có giá trị để đảm bảo cho việc thi hành án, nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung “phạt tiền” đối với bị cáo Ph.

Bị cáo Ph phải chịu tiền án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố bị cáo Trần Ph (tức: Trần Thanh Ph) phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

*  Áp  dụng  điểm  b,  khoản  2,  Điều  194;  điểm  p,  khoản  1,  khoản  2,  Điều 46/BLHS.

Xử phạt: Trần Ph: 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/6/2017.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 41/Bộ luật hình sự và Điều 76/Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong có chữ ký của Đỗ Văn H1 và Hoàng Thế L, có 02 dấu tròn màu đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Bắc Kạn; 01 (Một) phong bì niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định 0,020 gam cùng phong bì và bao gói cũ; 02 xi lanh nhựa chưa qua sử dụng; 02 lọ nước cất chưa qua sử dụng; 01 (Một) mảnh giấy màu trắng kích thước 04cm x 05cm.

- Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu  đỏ, đen đã qua sử dụng.

- Tiền mặt: 1.835.000đ (Một triệu tám trăm ba mươi lăm nghìn đồng), trong đó:

+) Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

+) Số còn lại: 1.635.000đ (Một triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng): tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo – thừa trả cho bị cáo Ph.

- Truy thu đối với Trần Ph số tiền thu lợi bất chính do bán ma túy mà có: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

Việc thi hành án khoản tiền truy thu được thực hiện theo quy định tại Điều 357/Bộ luật dân sự năm 2015: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”.

* Án phí: Căn cứ vào Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ph phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


128
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 49/2017/HSST ngày 28/12/2017 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:49/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Kạn - Bắc Kạn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về