Bản án 48/2019/HS-ST ngày 10/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 48/2019/HS-ST NGÀY 10/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 52/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số48/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 1992, tại Phú Yên; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn D và bà: Huỳnh Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/02/2019 đến ngày 27/02/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH và Thương Mại Dịch vụ G; Địa chỉ: Lầu 6, tòa nhà SCIC, số 16 T, phường 06, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Xuân V – Quản lý khu vực cửa hàng J (vắng mặt).

- Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn A, sinh năm 1994; Trú tại : Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên (có mặt).

- Người làm chứng:

Chị Nguyễn Việt Tr (vắng mặt).

Anh Ngô Văn Q (vắng mặt).

Ông Nguyễn Văn Th (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt nhau sau: Trong Th gian từ năm 2015 đến năm 2016, Nguyễn Văn T được thuê làm nhân viên quản lý tại cửa hàng J, sau đó nghỉ việc về quê ở xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Do biết cách thức quản lý cũng như nơi cất giữ tiền tại cửa hàng nên T nảy sinh ý định quay lại cửa hàng J để trộm cắp tài sản. Khoảng 16 giờ ngày 08/02/2019, T đi tầu từ Phú Yên ra Ninh Bình, đến 15 giờ ngày 09/02/2019, T xuống ga Ninh Bình rồi đi xe ôm đến cửa hàng J ở số nhà 920 và 922 đường Tr, phường Ph, thành phố Ninh Bình. Khi đến nơi, T đi vào phía trong cửa hàng rồi đi theo lối cầu thang lên thẳng tum tầng thượng của cửa hàng ẩn nấp sau khối điều hòa để chờ điều kiện sơ hở để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, sau khi biết được toàn bộ nhân viên của cửa hàng đã đóng cửa đi về, Nguyễn Văn T đeo khẩu trang đi gang tay mở cửa tum đi xuống tầng 1 tắt cầu giao hệ thống điện của cửa hàng, phía trong cửa hàng có hệ thống đèn dự phòng nên ánh sáng vẫn đủ nhìn, T đi lên phòng quản lý ở phòng lửng tầng 2 đến chỗ két đựng tiền và tìm chìa khóa két ở quanh phòng thì tìm thấy 05 chìa khóa két, T mở thử nhưng không được. Do trên mặt két có thiết kế một khe hở kích thước (1,5cm x 15cm) để bỏ các cọc tiền vào két sắt, T đi lên tum tầng thượng tìm được 01 sợi dây thép loại 01 ly dài khoảng 60cm bẻ cong một đầu thành móc. Sau đó T cầm sợ dây thép xuống và dùng sợi dây thép thả vào khe bỏ tiền trên két sắt móc các cọc tiền lên. Khi cọc tiền lên đến sát miệng khe bỏ tiền, T dùng tay trái nhấc cọc tiền từ trong két sắt ra ngoài. T sử dụng sợi dây thép kéo tiền liên tục đến khoảng 03 giờ ngày 10/02/2019 được tổng số tiền là 362.333.000đồng. Sau khi lấy được số tiền trên, T lên trên tum tầng thượng lấy 01 túi nilon mầu đỏ đi xuống và bỏ toàn bộ số tiền vừa trộm cắp được cùng 05 chìa khóa két vào trong túi, tiếp tục quan sát, T thấy cửa hàng có lắp đặt hệ thống Camera an ninh, T tìm đến vị trí đặt đầu ghi hình ở trên tủ tài liệu tháo toàn bộ jac cắm và lấy 01 đầu ghi hình Camera màu đen nhãn hiệu STP kèm theo ổ cứng màu đen trắng nhãn hiệu Seagate 1000GB bỏ vào trong túi nilon cùng với số tiền, sợi giây thép T cũng cuộn nhỏ và bỏ cùng số tiền. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 10/02/2019, T đi bộ xuống tầng 1 rẽ trái ra cửa cuốn bằng sắt hướng đường L, thấy cửa khóa không mở được nên T đi đến quầy bán hàng lấy 01 dao inox loại dao dùng để ăn gà rán đến tháo 02 ốc vít trên mặt ổ khóa bỏ vào túi đựng tiền và dùng tay giật ổ khóa làm hai đầu chốt khóa bung ra, T dùng tay kéo cửa cuốn lên khoảng 1m rồi cầm theo túi đỏ đựng tiền và các đồ vật vừa lấy ra ngoài sau đó đóng cửa cuốn lại và đi bộ ngược đường L ra khu vực đường H trên đường đi T lấy sợi dây thép, 02 ốc vít của ổ khóa vất đi, rồi bắt xe taxi do anh Ngô Văn Q, sinh năm 1985, trú tại xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình chở ra khu vực Cây xăng H thuộc phường N, thành phố Ninh Bình, đón xe về bến xe thành phố T tỉnh Phú Yên và đi xe ôm ra bãi biển thành phố T, T đi bộ trên bãi biển chọn khu bãi đất trống không có người qua lại lấy số tiền vừa trộm được ra kiểm đếm được số tiền là 362.333.000đồng, sau đó T đến nhà ông Nguyễn Văn Th, trú tại tổ 7, khu vực 2, phường N, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định thuê phòng trọ. Số tiền trộm cắp được T tiêu sài cá nhân hết 28.583.000đồng, số còn lại 333.750.000đồng cùng 01 đầu ghi hình Camera kèm theo ổ cứng và 05 chìa khóa két T vẫn cất giấu ở phòng trọ.

Ngày 21/02/2019 Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T tại phòng trọ địa chỉ tại tổ 7, khu vực 2, phường N, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, thu giữ số tiền là 333.750.000đồng, 01 đầu ghi hình Camera màu đen nhãn hiệu STP gồm có ổ cứng màu đen trắng nhãn hiệu Seagate 1000GB kèm theo và 05 chìa khóa két là tiền và tài sản mà T trộm cắp tại cửa hàng J. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn T 01 áo khoác màu xám, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc giầy màu đen và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn T.

Tại bản kết luận định giá số 13/KL-HĐ ngày 08/3/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận “01 đầu ghi hình Camera màu đen nhãn hiệu STP có trị giá 3.985.000đồng”. Như vậy tổng số tiền và tài sản Nguyễn Văn T trộm cắp trị giá là 366.318.000đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 09 tháng 4 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình để xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, không thay đổi bổ sung gì. Căn cứ T chất mức độ phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 6 năm đến 6 năm 6 tháng tù. Th hạn tù T từ ngày 21/02/2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 áo khoác màu xám, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc giầy màu đen và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan CSĐT Công an đã trả lại cho anh Lê Xuân V là người đại diện theo ủy quyền đã nhận lại tài sản trên và không có yêu cầu đề nghị gì bồi thường dân sự, nên trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như tang vật chứng của vụ án, biên bản thực nghiệm điều tra...Từ những chứng cứ nêu trên có đủ căn cứ kết luận: Đêm ngày 09/02/1019 rạng sáng ngày 10/02/2019 tại cửa hàng J ở số nhà 920 và 922 đường Tr, phố P, phường Ph, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Nguyễn Văn T đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác đã lén lút đột nhập và ẩn nấp trong cửa hàng, đợi khi nhân viên cửa hàng ra về hết bị cáo đã dùng dây thép uốn thành móc để móc trộm tiền trong két sắt của cửa hàng chiếm đoạt số tiền là 362.333.000đ và 01 đầu ghi hình Camera màu đen nhãn hiệu STP gồm có ổ cứng màu đen trắng nhãn hiệu Seagate 1000GB có trị giá là 3.985.000đồng. Như vậy tổng số tiền và tài sản mà bị cáo Nguyễn Văn T chiếm đoạt trị giá là 366.318.000đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu, ba trăm mười tám nghìn đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự .

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh, trật tự trên địa bàn Ninh Bình, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, bị cáo là người địa phương khác đến, tuổi đời còn trẻ chưa có gia đình vợ con, có sức khỏe nhưng không chịu lao động. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện, chứng tỏ bị cáo bất chấp coi thường pháp luật. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội cũng như có tác dụng giáo dục bị cáo thì việc truy tố, đưa ra xét xử buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết. Hội đồng xét xử thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án:

Về tình tiết tăng nặng: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; trong thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự bị cáo được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua và nhiều bằng khen, giấy khen của đơn vị, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[5] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động, cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn so với mức hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự nhưng vẫn trong khung hình phạt liền kề của điều luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo đã tác động đến gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Việc xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Đi với 01 áo khoác màu xám, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc giầy màu đen và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn T thu giữ của bị cáo T, những tài sản đồ vật trên là tài sản sinh hoạt cá nhân của T. Do vậy cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 28/02/2019 anh Nguyễn Văn A (em trai bị cáo T) đã đến cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình tự nguyện giao nộp lại số tiền 28.583.000đồng mà bị cáo T đã tiêu sài để khắc phục hậu quả. Số tiền 28.583.000đồng do anh A giao nộp cùng với số tiền 333.750.000đồng, 01 đầu ghi hình Camera màu đen nhãn hiệu STP gồm có ổ cứng màu đen nhãn hiệu Seagate 1000GB và 5 chìa khóa két thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh Lê Xuân V là người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền và tài sản trên. Đối với 01 ổ khóa cửa cuốn bị hỏng do giá trị thấp nên anh V không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự, nên phần trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong. Tại phiên tòa hôm nay anh V có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với 01 sợi dây thép loại 01 ly bị cáo T sử dụng để trộm cắp tài sản và 02 ốc vít của ổ khóa cửa cuốn, bị cáo T khai trên đường đi từ đường L đến đường H, thành phố Ninh Bình bị cáo T đã vất đi, cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không thu giữ được.

Ngưi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn A đã tự nguyện giao nộp số tiền 28.583.000đồng cho cơ quan Công an, quá trình điều tra và tại phiên tòa anh A không yêu cầu bị cáo T phải hoàn trả lại số tiền trên, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo mức án phí quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 21/02/2019.

2. Vic xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 áo khoác màu xám, 01 quần dài màu đen, 02 chiếc giầy màu đen và 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn T (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/04/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 10/5/2019; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Th hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.


100
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2019/HS-ST ngày 10/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:48/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về