Bản án 48/2019/HS-ST ngày 09/04/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 48/2019/HS-ST NGÀY 09/04/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 09 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Phú xét sử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Ngọc T, sinh ngày 11/02/1992; Tại Quảng Nam; Thường trú: Khu phố P, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: 149 Đường D, phường Tý, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam, Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam, Con ông Trần Ngọc P và bà Nguyễn Thị L; Vợ Bùi Thanh T; Có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Trọng T, sinh năm 1989; Thường trú: 105/3 khu phố 1, phường T, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trần Ngọc T và Bảo (chưa rõ lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội. Ngày 14/6/2018, Bảo hướng dẫn T vào trang mạng www.1gom.com và đưa tên tài khoản “NW24a5bb000” mật khẩu “Qqqq1234” để cá độ bóng đá ăn tiền cho T nhập vào laptop, với tỉ lệ thắng 98 nhưng T trả cho khách 95 (hưởng chênh lệch 03) đồng thời Bảo cho T tạm ứng trước số tiền 15 triệu đồng để chung chi cho các con bạc, đến cuối tuần Bảo sẽ đến tính tiền thắng thua với T.

Từ ngày 15/6/2018, T đã tổ chức ghi phơi cá độ bóng đá cho khách tại nhà số 40A Đường L, phường T, quận Tân Phú (thu tiền trước). Cách thức thực hiện như sau: Khi có khách đến ghi cá độ đá banh ăn tiền, T trực tiếp ghi phơi và thu tiền của khách, sau đó nhập trực tiếp số tiền và kèo cược của khách vào trang www.1gom.com, theo cách thức 01 điểm trên trang mạng tương đương với 50.000 đồng; Ghi phơi xong các con bạc ra quán cà phê “Khang” số 40 Đường L, phường T, quận Tân Phú để xem đá banh, sau khi có kết quả thì vào tính tiền thắng thua với Thành.

Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 20/6/2018, T đã tổ chức ghi phơi cá độ bóng đá ăn tiền cho các đối tượng gồm: Phan Ngọc N, Nguyễn Ngọc Đại H, Lê Văn P, Nguyễn Văn L, Thạch Minh T, Nguyễn H, Nguyễn Tiến S trận đấu bóng đá giữa Bồ Đào Nha-Maroc (diễn ra lúc 19 giờ), cụ thể: Phan Ngọc N: bắt kèo Bồ Đào Nha chấp ¼ trái ăn 84, bắt đội Maroc hiệp 2 số tiền 1.000.000 đồng ăn tỉ lệ 84. T đã nhận số tiền 1.000.000 đồng và đưa phơi cho Nghỉ. Nguyễn Văn L: Kèo 1 (hiệp 1): bắt tài thẻ vàng ăn 87 cá độ với số tiền 500.000 đồng, T đã nhận số tiền 500.000 đồng và đưa phơi cho L. Kết thúc hiệp 1, kết quả: hòa, L chưa lấy lại tiền từ T; Kèo 2: bắt tài cả trận 2-2,5 trái ăn 90, cá độ số tiền 800.000 đồng; Kèo 3: bắt Bồ Đào Nha chấp 0,5-1 trái ăn 90 cá độ số tiền 500.000 đồng, T đã nhận tiền kèo 2 vào kèo 3 của L là 1.300.000 đồng. Nguyễn H: Kèo bắt đội Bồ Đào Nha cả trận chấp 0,75 trái, cá độ số tiền 200.000 đồng tỉ lệ ăn 90, T đã nhận số tiền 200.000 đồng và đưa phơi cho H. Lê Văn P: Kèo bắt đội Bồ Đào Nha cả trận chấp 0,5-1 trái, cá độ số tiền 500.000 đồng tỉ lệ ăn 90, T đã nhận số tiền và đưa phơi cho P. Nguyễn Ngọc Đại H: Kèo hiệp 1: bắt đội Bồ Đào Nha chấp ¼ trái, cá độ số tiền 500.000 đồng, tỉ lệ ăn 90, kết quả: Hiệp thắng, T đã đưa số tiền 450.000 đồng cho H; Kèo hiệp 2: bắt Bồ Đào Nha tài 2-2,5 trái, cá độ số tiền 500.000 đồng, tỉ lệ ăn 87 và chấp ¼ số tiền 500.000 đồng tỉ lệ ăn 90, T đã nhận số tiền 1.000.000 đồng và đưa phơi cho H. Nguyễn Tiến S: Kèo bắt Bồ Đào Nha cược tỉ số 2-0 số tiền 100.000 đồng, tỉ số 4-1 số tiền 50.000 đồng, tỉ số 2-1 số tiền 200.000 đồng, T đã nhận số tiền 350.000 đồng và đưa phơi cho S. Thạch Minh T: bắt Bồ Đào Nha cược tỉ số 1-0 số tiền 50.000; tỉ số 2-0 số tiền 50.000 đồng; tỉ số 3-0 số tiền 50.000 đồng; tỉ số 2-1 số tiền 50.000 đồng; tỉ số 3-1 số tiền 50.000 đồng; tỉ số 1-1 số tiền 50.000 đồng, T đã nhận số tiền 300.000 đồng và đưa phơi cho T.

Căn cứ điểm b khoản 3, điểm b khoản 4, điểm b khoản 5.2 Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì số tiền T dùng để đánh bạc là 300.000 đồng (thu giữ trong người T dùng để đánh bạc) + 5.150.000 đồng (số tiền đã nhận của 07 con bạc) + 950.000 đồng (trong đó 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc, 450.000 đồng tiền thắng cá độ của H) = 6.400.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra T còn khai nhận: Quá trình ghi cá độ bóng đá ăn tiền, thu lợi mỗi ngày được 500.000 đồng; Tính đến ngày bị bắt, T thu lợi từ việc đánh bạc là 3.500.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 209/PNK ngày 26/6/2018 gồm: Thu giữ của Trần Ngọc T:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu vàng số Imei 352002066920307

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Phone 6S màu bạc số Imei 355419072328423

+ 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng)

+ 01 (một) cùi giấy để ghi phơi (trong đó có 11 tờ phơi lưu)

+ 01 (một) cây viết bi xanh

+ 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asus màu đen số sê ri DBNOWU054923467

+ 01 (một) ti vi hiệu Panasonic màu đen 32 in. Thu giữ của Nguyễn Ngọc Đại H:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 865262036589471.

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Sirius đỏ đen biển số 79D1-411.47, số máy 5C6K-309109, số khung RLCS5C6KOGY309103.

+ 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng). Thu giữ của Lê Văn P:

+ 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6S Plus số Imei 353334076765714.

+ 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng).

+ 01 (một) xe gắn máy hiệu Exciter xanh trắng biển số 86B8-121.64, số máy 55P1-1555515, số khung RLCE55P10CY155543. Thu giữ của Nguyễn Văn L:

+ 01 (một) xe gắn máy Jupiter vàng đen biển số 77X2-9803, số máy 5P96-02412, số khung RLCJ5P9608Y024112.

+ 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng).

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng số Imei 358361065478509.

Thu giữ của Thạch Minh T:

+ 01 (một) xe gắn máy dạng Wave hiệu Sanda xám bạc biển số 77N9 – 6767, số máy VMESE2003651, số khung RLCS12B45HC03651.

Thu giữ của Phạm Ngọc N:

+ 01 (một) điện thoại hiệu Philipse 105 màu đen bị bể góc trái số Imei 864383031429710.

+ 01 (một) xe gắn máy Blade màu trắng biển số 79V1-292.28, số máy JA3GE0253633, số khung RLHJA3622EY141222.

Thu giữ của Nguyễn H:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Grand màu đen số Imei 359658067202822.

+ 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng). Thu giữ của Nguyễn Tiến S:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung J5 trắng đã bị khóa mã không kiểm tra được số Imei.

+ 01 (một) xe gắn máy Nouvo màu trắng biển số 47S1-062.94, số máy 1DB1-175631, số khung RLCN1DB10DY175614.

Thu giữ của Đoàn Đăng H:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng số Imei 354443068202591.

+ 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng).

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKSQTP ngày 25/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Tân Phú để xét xử bị cáo Trần Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ;

Sau khi nghe lời khai nhận tội của bị cáo;

Sau khi nghe ý kiến tranh luận và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú về mức án đối với bị cáo Trần Ngọc T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 20/6/2018, tại quán cà phê “Khang” số 40A Đường L, phường T, quận Tân Phú, Trần Ngọc T đã bị bắt quả tang hành vi dùng mạng máy tính thực hiện hành vi cá độ bóng đá ăn tiền với các đối tượng Phan Ngọc N, Nguyễn Ngọc Đại H, Lê Văn P, Nguyễn Văn L, Thạch Minh T, Nguyễn H, Nguyễn Tiến S với số tiền 6.400.000 đồng.

Đối với các đối tượng tham gia cá độ bóng đá gồm Phan Ngọc N, Nguyễn Ngọc Đại H, Lê Văn P, Nguyễn Văn L, Thạch Minh T, Nguyễn H, Nguyễn Tiến S, xét thấy số tiền dùng để cá độ đều dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án tiền sự, chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự nên Công án quận Tân Phú đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với các đối tượng nêu trên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 26 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013.

Đối với Đoàn Đăng H, sinh năm 1993; Thường trú 42/60/2 Đường L, phường T, quận Tân Phú là quản lý quán cà phê “Khang” số 40 Đường L, phường T. Qua điều tra xác minh, H chỉ phục vụ bán cà phê, khách đến quán uống nước xem bóng đá. H biết việc T cá độ đá banh và giới thiệu 02 khách cho T, tuy nhiên H không hưởng lợi từ việc cá độ của T, T không ghi phơi cá độ tại quán của H nên không đủ cơ sở để xử lý đối với Đoàn Đăng H.

Đối với đối tượng tên Bảo do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa đủ cơ sở để xử lý.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tang vật chứng thu giữ, phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015. Do đó, cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là mầm mống dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, gây bất ổn và làm xáo trộn đời sống sinh hoạt lành mạnh của những người lao động chân chính. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả, chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không phạm tội nào khác theo quy đinh tai điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu; Do đó, không cần thiết cách ly các bị cáo mà giao về chính quyền địa phương nơi cư trú giáo dục cũng có tác dụng đối với các bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[3] Đây là dạng tội, ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt tiền bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.

[4] Bị cáo khai nhận thu lợi bất chính 3.500.000 đồng, cần buộc bị cáo nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước, Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 3.500.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú theo Biên lai thu số 0012768 ngày 09/4/2019 để khắc phục hậu quả; Bị cáo đã thực hiện xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu vàng số Imei 352002066920307, T dùng để liên lạc cá nhân, xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo T.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Phone 6S màu bạc số Imei 355419072328423, T dùng để phục vụ cho việc đánh bạc; Đối với 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asus màu đen số sê ri DBNOWU054923467; Qua điều tra thì tài sản này là của anh Bùi Trọng T (em rể T), ngày 12/6/2018 T cho T mượn máy tính trên để sử dụng, việc T dùng máy tính để ghi cá độ đá banh thì T không biết, tuy nhiên, T không chứng minh được mình là chủ sở hữu đối với máy tính Asus màu đen nêu trên; Đối với 01 (một) ti vi hiệu Panasonic màu đen 32 in, đây là những công cụ phương tiện T sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Đối với số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng), T dùng vào mục đích đánh bạc thì cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

+ Đối với 01 (một) cùi giấy để ghi phơi (trong đó có 11 tờ phơi lưu) hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án, xét thấy đây là vật chứng vụ án nên cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

+ Đối với 01 (một) cây viết bi xanh thu giữ của T là vật không có giá trị thì bị tịch thu và tiêu hủy.

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 865262036589471 thu giữ của Nguyễn Ngọc Đại H; 01 (một) xe gắn máy hiệu Sirius đỏ đen biển số 79D1 – 411.47, số máy 5C6K-309109, số khung RLCS5C6KOGY309103, qua xác minh xe máy này do chị Đỗ Thị Ngọc H đứng tên chủ sở hữu, chị H đã ủy quyền lại cho Nguyễn Ngọc Đại H quản lý, sử dụng; Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 6S Plus số Imei 353334076765714 và 01 (một) xe gắn máy hiệu Exciter xanh trắng biển số 86B8 – 121.64, số máy 55P1-1555515, số khung RLCE55P10CY155543 (do Lê Văn P đứng tên chủ sở hữu), thu giữ của Lê Văn P; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng số Imei 358361065478509 thu giữ của Nguyễn Văn L; Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Philipse 105 màu đen bị bể góc trái số Imei 864383031429710 thu giữ của Phạm Ngọc N; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Grand màu đen số Imei 359658067202822 thu giữ của Nguyễn H; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung J5 trắng đã bị khóa mã không kiểm tra được số Imei; 01 (một) xe gắn máy Nouvo màu trắng biển số 47S1-062.94, số máy 1DB1-175631, số khung RLCN1DB10DY175614 (do Nguyễn Tiến S đứng tên chủ sở hữu), thu giữ của Nguyễn Tiến S; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng số Imei 354443068202591 thu giữ của Đoàn Đăng H. Đây là những tài sản không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Ngọc Đại H, Lê Văn P, Nguyễn Văn L, Phạm Ngọc N, Nguyễn H, Nguyễn Tiến S và Đoàn Đăng H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với 01 (một) xe gắn máy Jupiter vàng đen biển số 77X2-9803, số máy 5P96-02412, số khung RLCJ5P9608Y024112, qua xác minh xe này do anh Võ Văn N đứng tên chủ sở hữu, đã ủy quyền cho anh Đinh Lê Hoàng sử dụng; ngày 20/6/2018, anh H cho Nguyễn Văn L mượn đi công việc, xe gắn máy trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hoàng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với 01 (một) xe gắn máy dạng Wave hiệu Sanda xám bạc biển số 77N9-6767, số máy VMESE2003651, số khung RLCS12B45HC03651, qua xác minh xe gắn máy trên do chị Thân Thị Nh đứng tên sở hữu, chị N cho anh ruột là Thân

Trọng H mượn làm phương tiện đi lại; Ngày 20/6/2018 anh H cho Thạch Minh T mượn để sử dụng, xe gắn máy không liên quan đến đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ 01 (một) xe gắn máy Blade màu trắng biển số 79V1-292.28, số máy JA3GE0253633, số khung RLHJA3622EY141222. Qua xác minh xe trên do chị Phan Thị Xuân Đ (em ruột anh N) đứng tên chủ sở hữu, Ngày 20/6/2018 chị Đ cho anh N mượn xe đi chơi, xe gắn máy không liên quan đến đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Đ, nên Hội đồng xét xử không xem xét

+ Đối với số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) thu giữ của Lê Văn P; số tiền 1.100.000 đồng (một triệu một trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn L; số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Nguyễn H và số tiền 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) thu giữ của Đoàn Đăng H xét không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho P, L, H và Hải nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc Đại H, trong đó: 2.550.000 đồng là tiền cá nhân không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho H nên Hội đồng xét xử không xem xét; Số tiền còn lại 950.000 đồng (gồm 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc, 450.000 đồng là tiền thắng độ) đây là tiền liên quan đến việc cá độ nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đề nghị xử phạt bị cáo Trần Ngọc T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 321; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về nơi cư trú là Ủy ban nhân dân phường T, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 209/PNK ngày 26/6/2018 của Công an quận Tân Phú.

Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) cùi giấy để ghi phơi (trong đó có 11 tờ phơi lưu).

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây viết bi xanh thu giữ của Thành.

Trả lại cho T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu vàng số Imei 352002066920307.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Phone 6S màu bạc số Imei 355419072328423; 01 (một) máy tính xách tay hiệu Asus màu đen số sê ri DBNOWU054923467; 01 (một) ti vi hiệu Panasonic màu đen 32 in; số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ của Thành và số tiền 950.000 đồng (gồm 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc, 450.000 đồng là tiền thắng độ) thu giữ của Nguyễn Ngọc Đại H.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


37
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về