Bản án 48/2018/HS-ST ngày 20/07/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 48/2018/HS-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 20 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PT, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2018/HS -ST ngày 27 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1998; Nơi cư trú: Cụm 2, xã PĐ, huyện PT, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa lớp 12/12; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 18/4/2018 bị Công an huyện PT ra Quyết định xử phạt hành chính, phạt tiền 2.500.000đ về hành vi Xâm hại đến sức khỏe của người khác.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 10/4/2018, đến ngày 18/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Khuất Văn S, sinh năm 1975; địa chỉ: Cụm 7, xã PT, huyện PT, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 10/4/2018, Nguyễn Văn B đang ở nhà thì có bạn là Hoàng Tiến M, sinh năm 1990 ở Cụm 7, xã LX, huyện PT, thành phố Hà Nội, gọi điện đến nhờ B đi mua hộ 400.000đ tiền ma túy đá. B đồng ý và bắt xe của một người lái xe ôm không quen biết đến khu vực Phố Hàng, Thị xã ST, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy. Tại đây, B nảy sinh ý định chỉ mua 300.000đ ma túy sau đó bán lại cho M với giá 400.000đ để được hưởng lợi 100.000đ. B mượn điện thoại của người xe ôm gọi điện cho một người phụ nữ tên T hỏi mua 300.000đ tiền ma túy đá, T đồng ý và bảo B đợi một lúc. Gọi điện xong, B trả điện thoại cho người xe ôm đi và một mình đứng đợi T. Một lúc sau có một người đàn ông đi ra gặp B (B không biết là ai) và bán cho B một gói ma túy với giá 300.000đ. Mua được ma túy, B đi một xe ôm khác (không biết lai lịch của người này) về xã LX, huyện PT để bán cho M. Trên đường về thì M gọi điện bảo B mang ma túy đến chỗ ghế đá ven ao Đình làng thôn Biểu Vệ, xã LX đưa cho bạn của M là Khuất Văn S, sinh năm 1975 ở Cụm 7, xã PT, huyện PT, đang đợi ở đó. M còn nhắn tin vào điện thoại di động của B nội dung là “ trả B trước 300.000đ, cho M nợ lại 100.000đ”. B đồng ý và đi về chỗ hẹn thì thấy Khuất Văn S đang chờ ở đó. B đi lại gần thì Sự đưa cho B 300.000đ và nói nợ 100.000đ, B cầm tiền rồi đưa cho Sự một gói ma túy vừa mua được trước đó. Khi Sự vừa cầm gói ma túy B đưa thì đúng lúc đó tổ công tác Công an huyện PT phối hợp với Công an xã LX, huyện PT đang làm nhiệm vụ tuần tra đi đến, thấy có biểu hiện nghi vấn, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Sự và B, lúc này người lái xe ôm chở B đang đứng gần đó đã điều khiển xe bỏ chạy, lực lượng Công an đuổi theo nhưng không kịp. Quá trình kiểm tra hành chính, B đã thành khẩn khai nhận là đang bán ma túy cho Sự và tự giác giao nộp cho tổ công tác 300.000đ là tiền vừa bán ma túy cho Sự. Khuất Văn S cũng tự giác giao nộp cho tổ công tác gói ma túy mua được của B. Tổ công tác đã thu giữ niêm phong tại chỗ gói ma túy và tiền do B và Sự giao nộp, đồng thời tuyên bố bắt người phạm tội quả tang đối với B về hành vi bán trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nilon màu trắng trong, kích thước khoảng 1,5x 02 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, bên ngoài gói bằng giấy có quấn băng dính màu đen.

- 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen đã cũ, thu của Sự.

- 01 chiếc điện thoại Nokia màu đen trắng đã cũ, thu của B.

- Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện PT ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, thư tín của Nguyễn Văn B ở Cụm 2, xã PĐ, huyện PT, thành phố Hà Nội. Kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại bản kết luận giám định số 3572/KLGĐ - PC 54 ngày 19/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,063 gam.

Tại Bản cáo trạng số 52/CT- VKS ngày 22 tháng 6 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 01phong bì niêm phong của Phòng PC 54 Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn B, Khuất Văn S và chữ ký của giám định viên phòng PC54 Công an thành phố Hà Nội.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ thu của Khuất Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã cũ thu của Nguyễn Văn B và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên tòa đã thành khẩn khai nhận toàn B hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện PT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh, khung hình phạt: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện PT đã truy tố. Mặt khác, lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng các vật chứng đã được Cơ quan điều tra thu giữ, Kết luận giám định số 3572/KLGĐ - PC54 ngày 19/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: 

Khoảng 15 giờ ngày 10/4/2018, Nguyễn Văn B có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,063 gam cho Khuất Văn S với giá 300.000đ, nhưng Sự mới trả 300.000đ, tại thôn Biểu Vệ, xã LX, huyện PT, thành phố Hà Nội thì bị tổ công tác Công an huyện PT phối hợp Công an xã LX, huyện PT phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn B, đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện PT, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ đã trực tiếp xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Ma túy, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự, không những làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người mà còn làm ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc của nhiều gia đình. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối bản thân, gia đình và xã hội nhưng vì hám lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Về nhân thân ngày 27/8/2017 bị cáo có hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác, đến ngày 18/4/2018 bị Công an huyện PT ra quyết định xử phạt hành chính, hình thức phạt tiền. Thể hiện bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân nên cần phải có hình phạt nghiêm, buộc bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động thuần túy, không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Về nguồn gốc số ma tuý: Nguyễn Văn B khai mua ma túy của người phụ nữ tên T và được một người đàn ông không quen biết giao, bán cho tại khu phố Hàng, thị xã ST, thành phố Hà Nội. Do bị cáo không rõ nhân thân lai lịch của những người này, số điện thoại mà bị cáo liên lạc với T để hỏi mua ma túy là của người lái xe ôm không quen biết, số điện thoại của T thì sau khi bị bắt, bị cáo không nhớ chính xác được nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xác minh nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Khuất Văn S, do khối lượng ma túy thu giữ trên người của Sự lúc bị bắt quả tang là 0,063 gam nên không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự; về nhân thân Sự chưa có tiền án, tiền sự gì nên Công an huyện PT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Khuất Văn S là phù hợp.

Đối với Hoàng Tiến M sinh năm 1990 trú tại Cụm 7, xã LX, huyện PT, thành phố Hà Nội là người gọi điện thoại hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn B. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập M để làm việc, nhưng qua xác minh hiện tại M không có mặt tại địa phương. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ và chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT 01 phong bì niêm phong của Phòng PC 54- Công an thành phố Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn B, Khuất Văn S và chữ ký của giám định viên phòng PC54 Công an thành phố Hà Nội, là vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn B và do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ thu của Khuất Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã cũ thu của Nguyễn Văn B. Quá trình điều tra xác định số tiền 300.000đ là tiền Sự mua ma túy của B, 02 chiếc điện thoại này liên quan đến việc mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 27 (Hai mươi bảy) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/4/2018 đến ngày 18/4/2018.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên phòng PC 54 Công an thành phố Hà Nội và chữ ký của Nguyễn Văn B, Khuất Văn S.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đ và 01điện thoại di động nhãn Nokia màu đen đã cũ, 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen trắng đã cũ. (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2018 giữa Công an huyện PT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện PT, thành phố Hà Nội. Số tiền được nộp vào tài khoản theo Giấy nộp tiền ngày 25/6/2018 của Kho bạc Nhà nước huyện PT, thành phố Hà Nội.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự , quyền kháng cáo của bị cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy đinh tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


83
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2018/HS-ST ngày 20/07/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:48/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phúc Thọ - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về