Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 48/2018/HNGĐ-ST NGÀY 31/05/2018 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 31 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 515/2017/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2017 về việc: “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:41/2018/QĐST-HNGĐ ngày 27/4/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2018/QĐST-HPT ngày 15/5/2018, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh M sinh năm: 1979

Nơi cư trú: Tổ 6, ấp 6, xã T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S sinh năm: 1975

Nơi cư trú: Tổ 6 ấp 6, xã T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

(Chị M có mặt, anh S vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 21/11/2017, bản tường trình, biên bản lấy lời khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thanh M trình bày:

Chị Trần Thị Thanh M và anh Nguyễn Thanh S quen biết tìm hiểu nhau được khoảng 02 tháng thì hai bên tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 và không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chị M và anh Sơn không hợp nhau về tính tình, bất đồng quan điểm sống. Giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau và xúc phạm danh dự của nhau. Từ năm 2014 đến nay chị M và anh S không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị M xin ly hôn với anh Sơn.

Về con chung: Anh S và chị M có 02 con chung là Nguyễn Thanh L, sinh ngày: 10/8/2002 và Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 23/3/2004. Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung. Chị M không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con cùng chị M.

Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, bị đơn anh Nguyễn Thanh S đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để làm việc, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của pháp luật nhưng anh S không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ tố tụng:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa số: 32/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 15/5/2018 cho bị đơn anh Nguyễn Thanh S nhưng tại phiên tòa hôm nay anh S vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung:

Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thanh M và anh Nguyễn Thanh S thì thấy: Chị M và anh S tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn theo luật định (BL 01, 57) Quá trình chung sống giữa chị M và anh S thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, xúc phạm danh dự của nhau, giữa hai bên không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng nên chị M yêu cầu xin ly hôn với anh S. Điều này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 22). Xét quan hệ hôn nhân giữa chị M và anh S tình trạng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị M có yêu cầu xin ly hôn với anh S là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Qúa trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến nay Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Trường S để làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng anh S đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Điều này cho thấy anh S không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ. Do chị M và anh S tự nguyện chung sống với nhau, không đăng ký kết hôn nên theo quy định của pháp luật chị M và anh S không được công nhận là vợ chồng.

Về con chung:

Chị M và anh S có 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 23/3/2004 và Nguyễn Thanh L, sinh ngày: 10/8/2002.

Xét yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung của chị M là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận. Bởi lẽ, trong thời gian sống chung thì 02 con chung do chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ngoài ra, hai con chung là cháu L và cháu T có nguyện vọng được sống với chị M trong trường hợp cha mẹ không còn sống chung với nhau.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích quy định của pháp luật về quyền được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và nghĩa vụ của người không nuôi con phải cấp dưỡng nuôi con nhưng chị M xác định đủ điều kiện kinh tế để nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của chị M là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án, người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành nghiêm về quan hệ tố tụng, đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng khi giải quyết vụ án. Bị đơn chưa chấp hành các quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí

Tuyên xử:

Không công nhận chị Trần Thị Thanh M và anh Nguyễn Thanh S là vợ chồng

Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Thanh M được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 23/3/2004 và Nguyễn Thanh L, sinh ngày: 10/8/2002.

Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh S do chị M không yêu cầu.

Khi ly hôn, pháp luật vẫn bảo hộ mọi quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung (quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con …).

Về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Thanh M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 004593 ngày 19/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Chị M đã nộp án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết./


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2018/HNGĐ-ST ngày 31/05/2018 về xin ly hôn

Số hiệu:48/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về