Bản án 48/2017/HNST ngày 25/08/2017 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 48/2017/HNST NGÀY 25/08/2017 VỀ XIN LY HÔN 

Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành - Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số”: 234/2017/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2017 về việc: “Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số”: 46/2017/QĐXX-ST ngày 25 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Võ Thị Thanh T, sinh năm 1971 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Bùi Văn N, sinh năm 1973 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp D, xã E, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/3/2017, bản tự khai, những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Thị Thanh T trình bày:

Chị T và anh N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 và không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống có hạnh phúc thời gian đầu. Năm 2006 vợ chồng thường mâu thuẫn nhau, nguyên nhân do tính tình không phù hợp, anh N thường xuyên nhậu nhẹt, chửi mắng chị. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 01/2016 đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị không thể chung sống với anh N nên chị T yêu cầu được chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh N.

Về con chung: Không có

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Anh N được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý và Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh N vắng mặt không lý do. Tòa án không tiến hành lấy lời khai cũng như hòa giải không được đối với anh N. Tòa án đã lập biên bản hòa giải không được đối với anh N và đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Bùi Văn N được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ 2 để dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh N là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh T và anh Bùi Văn N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004 và không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc. Đến năm 2006, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không phù hợp. Anh N thường xuyên nhậu nhẹt và không lo đến cuộc sống gia đình. Nay chị T và anh N không thể tiếp tục chung sống với nhau. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chị T yêu cầu được chấm dứt quan hệ vợ chồng với anh N.

Xét thấy: Chị T và anh N tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, mặc dù có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng đến nay anh chị vẫn không đăng ký kết hôn. Căn cứ vào Điểm b, Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH-10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, Tòa án không công nhận chị T và anh N là vợ chồng.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nên Tòa án không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 14 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Các Điều 147, 227, 232, 266, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 35/2000/QH-10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị Thanh T và anh Bùi Văn N là vợ chồng.

2/ Về con chung: Chị T khai không có nên Tòa án không xem xét.

3/ Về tài sản chung: Chị T khai không có nên Tòa án không xem xét.

4/ Về nợ chung: Chị T khai không có nên Tòa án không xem xét.

5/ Về án phí:

Án phí HNST: Chị T phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), số tiền án phí trên được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0010063 ngày 30/5/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre. Chị T đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

6/ Chị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh N được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


111
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 48/2017/HNST ngày 25/08/2017 về xin ly hôn

Số hiệu:48/2017/HNST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về