Bản án 47/2019/HS-ST ngày 28/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 28 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2019/HSST ngày 14/3/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXXST-HS ngày 15/3/2019 đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh ngày: 01/11/1987 tại huyên M , tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C, xã Đ, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Thái; giơi tinh: Nam; tôn giáo: Không; quôc tich: Viêt Nam; con ông Hà Văn T1 và bà Lò Thị H; bị cáo có vợ là Hà Thị V (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án , tiền sự : Không; bị bắt , tạm giữ , tạm giam từ ngày 13/01/2019 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 13/01/2019, Hà Văn T đi bộ một mình từ nhà đến khu vực bản Co Sung, xã Đông Sang để làm nương rẫy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T nghỉ và đi bộ về nhà. Khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc địa phận bản Co Sung thì T gặp 1 người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, khoảng 40 tuổi. Qua trao đổi, T hỏi và mua được của người đó 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 10 viên Methamphetamine với giá 500.000 đồng. T cất giấu gói Methamphetamine vào túi quần bên phải phía trước rồi về nhà. Khi về đến nhà, T lấy gói Methamphetamine ra rồi cất giấu trong một chiếc khẩu trang có nền hoa văn màu xanh đen và bỏ vào trong 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Index màu đen. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, T cầm chiếc mũ bảo hiểm có cất giấu Methamphetamine rồi đi nhờ xe máy của một người thanh niên khoảng 30 tuổi đến khu vực tiểu khu 32, thị trấn N thì T xuống xe và đi bộ một mình theo hướng tiểu khu 32 đến tiểu khu Bó Bun, thị trấn Nông trường Mộc Châu. Khi T đi đến khu vực đường quốc lộ 6 thì gặp tổ công tác Công an huyện Mộc Châu đang làm nhiệm vụ, do sợ bị phát hiện gói Methamphetamine giấu trong chiếc mũ bảo hiểm đang cầm trên tay nên T đã bỏ chạy vào đường dân sinh tiểu khu 32, thị trấn Nông trường Mộc Châu. Khi chạy được khoảng 20m thì bị tổ công tác khống chế và tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ: 01 gói nilon màu đen bên trong đựng 10 viên nén màu hồng Methamphetamine; 01 chiếc khẩu trang có nền hoa văn màu xanh, đen; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu INDEX màu xanh đen trắng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Hà Văn T, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật và dẫn giải Hà Văn T về trụ sở cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để giải quyết theo quy đinh của pháp luật.

Ngày 13/01/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng ma túy thu giữ của Hà Văn T như sau: 10 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,96 gam, lấy 04 viên = 0,39 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu ký hiệu “T”. Trưng cầu giám định xác định mẫu ký hiệu “T” có phải là ma túy không, loại ma túy gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu?

Tại kết luận giám định số: 243 ngày 15/01/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại chất Methamphetamine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,39 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,96 gam, loại Methamphetamine”.

Bản cáo trạng số: 43/CT-VKSMC ngày 12/03/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Hà Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 18 đến 21 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,57 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 chiếc khẩu trang có nền hoa văn màu xanh, đen, làm bằng vải đã cũ; 01 chiếc mũ bảo hiểm, nhãn hiệu INDEX màu xanh đen trắng, loại mũ bảo hiểm có cằm, trùm đầu, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đã qua sử dụng của Hà Văn T.

3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan điều tra, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 13/01/2019; phù hợp với vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 13/01/2019, bị cáo Hà Văn T đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 0,96 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức rõ tác hại của ma túy và việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

 [3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

 [4] Về hình phạt bổ sung - phạt tiền: Quá trình điều tra , xác minh và xet hỏi tại phiên toà thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

 [5] Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 13/01/2019. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với người nam thanh niên cho bị cáo Hà Văn T đi nhờ xe máy đến khu vực tiểu khu 32, thị trấn Nông Trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ và việc bị cáo Hà Văn T cất giấu trái phép ma túy, người nam thanh niên này hoàn toàn không biết nên không đề cập đến việc xử lý.

 [6] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,57 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 chiếc khẩu trang có nền hoa văn màu xanh – đen, làm bằng vải đã cũ; 01 chiếc mũ bảo hiểm, nhãn hiệu INDEX màu xanh đen trắng, loại mũ bảo hiểm có cằm, trùm đầu, đã qua sử dụng; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đã qua sử dụng của Hà Văn T. Xét là chất ma túy và đồ vật liên quan, vật không có giá trị sử dụng, cân tịch thu tiêu huỷ.

 [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 [8] Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13/01/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 06 viên nén màu hồng = 0,57 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 chiếc mũ bảo hiểm nhãn hiệu Index, màu đen - trắng, loại mũ bảo hiểm có cằm, trùm đầu, đã qua sử dụng cũ; 01 chiếc khẩu trang có nền hoa văn màu xanh - đen, làm bằng vải, đã qua sử dụng cũ; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đã qua sử dụng của Hà Văn T.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 28/03/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về