Bản án 47/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 47/2019/HS-ST NGÀY 23/10/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 23 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐXXST-HS, ngày 10/10/2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn S, sinh năm 1977 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Huỳnh Thị Đ; vợ là Nguyễn Thị D và 01 con sinh năm 2009; bị tạm giữ ngày 13/01/2019 đến ngày 22/01/2019; bị bắt tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 12/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

2. Bùi Văn P, sinh năm 1963 tại CamPuChia; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Ph và bà Phạm Thị S1 (đều đã chết); vợ là Lê Thị T và 03 con, lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1992; bị tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 23/7/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

3. Nguyễn Minh Tr, sinh năm 1987 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Thôn 1B (Bon P), xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh N và bà Nguyễn Thị Q; vợ là Lý Thảo D1 và 01 con sinh năm 2018; tiền án: 01 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản", bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù tại Bản án số 88/2012/HSST ngày 14/9/2012; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù tại Bản án số 100/2006/HSST ngày 08/9/2006 về tội "Trộm cắp tài sản"; bị tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 23/7/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

4. Nguyễn Văn S2, sinh năm 1971 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ1; vợ là Nguyễn Thị Ph1 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2004; bị tạm giữ ngày 03/7/2019 đến ngày 23/7/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

5. Phạm Thế P1, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thế V và bà Trần Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Kim L và 01 con sinh năm 2012; bị tạm giữ ngày 03/7/2019 đến ngày 12/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

6. Nguyễn Minh Đ2, sinh năm 1986 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị C1; vợ là Trần Thị M1 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; bị tạm giữ ngày 03/7/2019 đến ngày 12/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh tại ngoại.

7. Đoàn Văn Q, sinh năm 1968 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn Th1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ3; vợ là Phạm Ngọc Y và 04 con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2004; đang tại ngoại theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Các bị cáo đều có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn 8, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Anh Đinh Văn D2, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn N, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Anh Trần Trung H1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn 8, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Thành S3, sinh năm 1960; địa chỉ: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

Người làm chứng:

- Anh Đinh Văn D4, sinh năm 1988; (đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông). Vắng mặt.

- Anh Vòng Nhật B, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn 8, xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Thăng L, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn 8, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

- Ông Huỳnh Phong Ph2, sinh năm 1953; địa chỉ: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 13/01/2019, Nguyễn Văn S rủ Nguyễn Thành S3, Tùy (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến khu đất trống thuộc thôn Quảng Tiến, xã Quảng Sơn để đá gà cá cược ăn thua bằng tiền; S chuẩn bị 50 cuộn băng keo dùng để băng cựa gà, 01 cân đồng hồ loại 5kg và 01 con gà; khi S đến khu đất trông đã có một số người gồm: S3, T1, Q, P, Đ2, P1, D4, Tr, S2, B, H, Hoàng Văn M1 (hiện nay đã chết), L, Ph2 và một số người khác; S kẻ trên mặt đất một hình vuông có diện tích 4mx4m để làm sân đá gà và thống nhất với các chủ gà:“đá xổ” mỗi trận là 1.000.000 đồng (nghĩa là hai chủ có gà đá với nhau bên nào thua thì phải trả cho bên thắng 1.000.000 đồng) ngoài ra những người khác (không phải chủ gà) chọn một con gà mình thích và cược với những người chọn con gà bên kia, tiền cược ngoài không quy định; S là người làm “biện”cả “đá xổ” và cược ngoài (biện có nghĩa là thu tiền của bên thua cược trả cho bên thắng cược); sau khi thu tiền S giữ lại của bên thắng 100.000 đồng đối với “đá xổ” và 50.000 đồng đối với cược ngoài, cụ thể từng trận như sau:

Trận thứ nhất: Khoảng 11h 30 phút, gà của S3 đá với gà của B “đá xổ” 1.000.000 đồng (S3 và B mỗi người bỏ ra 1.000.000 đồng), S3 còn cược ngoài với nhóm người ở xã Đắk Ha 1.000.000 đồng (chưa xác định được nhân thân lai lịch), trong đó: S3 góp 200.000 đồng, Ph2 góp 200.000 đồng, Đ2 góp 200.000 đồng, P1 góp 100.000 đồng, Hoàng Văn M1 góp 100.000 đồng và một người (chưa xác định được) góp 200.000 đồng; gà của S3 đá thua gà của B nên S thu của S3 2.000.000 đồng và đưa cho B 900.000 đồng, đưa cho nhóm người cược ngoài 950.000 đồng, S giữ lại 150.000 đồng.

Trận thứ hai: Gà của S đá với gà của P, đá xổ 1.000.000 đồng, Nguyễn Quốc H là người băng cựa, thả gà cho P (trong đó P có 500.000 đồng, còn 500.000 đồng chưa xác định được người tham gia); ngoài ra S còn cược ngoài với nhóm của Tr 3.000.000 đồng cụ thể: S góp 500.000 đồng, S2 góp 500.000 đồng, Đ2 góp 500.000 đồng, P1 góp 200.000đồng, Hoàng Văn M1 góp 1.300.000đồng; nhóm của Tr gồm: Tr góp 2.000.000 đồng, D4 góp 500.000 đồng, Q góp 500.000 đồng; Gà của S thua gà của P, S trả cho P 900.000 đồng, lấy tiền của những người cược ngoài trả cho Tr 2.850.000 đồng, S giữ lại 250.000 đồng; Tr đưa lại cho D4 450.000 đồng và Q 450.000 đồng.

Kết thúc trận thứ hai, đang chuẩn bị đá tiếp thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong bắt quả tang Nguyễn Văn S, Nguyễn Quốc H, Nguyễn Thành S3, Nguyễn Thăng L còn những người khác bỏ chạy, sau đó bị bắt giữ.

Vật chứng của vụ án thu giữ được: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 10.600.000 đồng (trong đó: Thu giữ của S 2.600.000 đồng; thu giữ của Tr 4.850.000 đồng; thu giữ của P 950.000 đồng; thu giữ của Đinh Văn D2 380.000 đồng; thu giữ của Trần Trung H1 700.000 đồng; Đoàn Văn Q giao nộp 950.000 đồng, Nguyễn Quốc H giao nộp 170.000 đồng); 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa; 08 con gà có tổng trọng lượng 16,8 kg; 50 cuộn băng keo (33 cuộn chưa sử dụng, 17 cuộn đã sử dụng); 01 điện thoại di động của Nguyễn Văn S; 01 điện thoại di động của Nguyễn Thành S3; 01 xe mô tô BKS 48B1-405.15 của Hoàng Văn M1; 01 xe mô tô BKS 54S2-5333 và 01 xe mô tô BKS 59M1-521.66 của Nguyễn Văn S; 01 xe mô tô BKS 71S9-1004 của Nguyễn Minh Đ2;

Ngày 25/7/2019 và ngày 04/9/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe mô tô BKS 48B1- 405.15 cho chị Ngân Thị T3 (vợ của Hoàng Văn M1), xe mô tô BKS 54S2-5333 cho Nguyễn Văn S; tiêu hủy 08 con gà.

Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong còn thu giữ 17 chiếc xe mô tô chưa xác định được chủ sở hữu, cơ quan CSĐT đã tách để tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Ti bản cáo trạng số 53/CT- VKS, ngày 04/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Bùi Văn P, Nguyễn Minh Tr, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1 và Đoàn Văn Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn S từ 03 tháng đến 05 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Bùi Văn P, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2 và Nguyễn Thế P1 mỗi bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu sung quỹ Nhà nước 7.540.000 đồng; 01 điện thoại di động của Nguyễn Văn S. Trả lại cho Nguyễn Thành S3 01 điện thoại di động; trả lại cho Nguyễn Văn S xe mô tô BKS 59M1-521.66 và 2.200.000 đồng; trả lại cho Nguyễn Minh Đ2 xe mô tô BKS 71S9-1004; trả lại cho Nguyễn Minh Tr 900.000 đồng và anh Trần Trung H1 510.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 cân đồng hồ; 50 cuộn băng keo. Chấp nhận trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT đã trả lại cho chị Ngân Thị Tấm xe mô tô BKS 48B1 – 405.15 và trả cho Nguyễn Văn S xe mô tô BKS 54S2-5333. Đối với 08 con gà đã tiêu hủy nên không xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn S, Bùi Văn P, Nguyễn Minh Tr, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1 và Đoàn Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 30 phút ngày 13/01/2019 tại thôn Q, xã Q, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn S, Nguyễn Minh Tr, Bùi Văn P, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1 và Đoàn Văn Q đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình đá gà cá cược ăn tiền; tổng số tiền tham gia cá cược là 8.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố các bị cáo về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Giữa các bị cáo là đồng phạm giản đơn trong đó S là người khởi xướng và chuẩn bị công cụ đồng thời trực tiếp tham gia đánh bạc và hưởng lợi từ số tiền các bị cáo khác tham gia đánh bạc; Tr hai lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản trong đó có một tiền án; vì vậy hình phạt áp dụng đối với bị cáo cần nghiêm khắc hơn hơn các bị cáo khác, cách ly các bị cáo với xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Đối với các bị cáo khác số tiền sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng; việc giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục vẫn đảm bảo cải tạo, giáo dục nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội; nghề nghiệp của các bị cáo không có căn cứ xác định được mức thu nhập cụ thể và không ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh Tr phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo đồng thời ăn năn hối cải; các bị cáo S, P, S2, P1 và Đ2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Tr được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Q có bố mẹ là người có công với cách mạng (ông Đoàn Văn Thôn và bà Nguyễn Thị Định được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất) nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn S có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[6]. Đối với Đinh Văn D4, sau khi phạm tội đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy nã và tách vụ án để tiếp tục điều tra, Đối với hành vi băng cựa thả gà của Nguyễn Quốc H, T1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), Nguyễn Thăng L, Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra khi nào đủ căn cứ sẻ xử lý sau. Đối với Hoàng Văn M1 đã chết nên không xem xét xử lý. Đối với hành vi đánh bạc của Vòng Nhật B, Nguyễn Thành S3, Huỳnh Phong Ph2 (trận thứ nhất) do không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

[7]. Về vật chứng: Đối với 10.600.000 đồng, trong đó 2.200.000 đồng của S; 900.000 đồng của Tr và 510.000 đồng của H1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền còn lại là 6.990.000 đồng (trong đó có khoản tiền thu được của Nguyễn Quốc H, Đinh Văn D2 và 400.000 đồng của S hưởng lợi từ hành vi phạm tội cần truy thu). Đối với 01 điện thoại di động của S; 01 điện thoại di động của S3; 01 xe mô tô BKS 59M1-521.66 của S; 01 xe mô tô BKS 71S9-1004 của Đ2 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các chủ sở hữu. Đối với 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa và 50 cuộn băng keo (33 cuộn chưa sử dụng, 17 cuộn đã sử dụng) là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 08 con gà còn sống, có tổng trọng lượng 16,8 kg đã tiêu hủy nên không xem xét xử lý.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Bùi Văn P, Nguyễn Minh Tr, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1 và Đoàn Văn Q phạm tội “Đánh bạc”.

1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn S 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 13/01/2019 đến 22/01/2019, tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 12/8/2019.

1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Tr 06 (sáu) thàng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 23/7/2019.

1.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn P 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/5/2019 đến ngày 23/7/2019 là 60 ngày (tương đương với 180 ngày cải tạo không giam giữ).

1.4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/7/2019 đến ngày 23/7/2019 là 21 ngày (tương đương với 63 ngày cải tạo không giam giữ).

1.5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thế P1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2019 đến ngày 12/8/2019 là 51 ngày (tương đương với 153 ngày cải tạo không giam giữ).

1.6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Đ2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2019 đến ngày 12/8/2019 là 51 ngày (tương đương với 153 ngày cải tạo không giam giữ).

1.7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Bùi Văn P cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Giao các bị cáo Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1, Nguyễn Minh Đ2 và Đoàn Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Bùi Văn P, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1, Nguyễn Minh Đ2 và Đoàn Văn Q.

2. Xử lý Vật chứng: Áp dụng điểm a Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tch thu sung quỹ nhà nước số tiền 6.990.000 (sáu triệu chín trăm chín mươi nghìn) đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 216.

Trả lại cho Nguyễn Văn S 2.200.000 (hai triệu hai trăm nghìn) đồng và 01 xe mô tô BKS 59M1-521.66. Trả lại cho Nguyễn Minh Đ2 01 xe mô tô BKS 71S9- 1004. Trả lại cho ông Nguyễn Thành S3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280. Trả lại cho Nguyễn Minh Tr 900.000 (chín trăm nghìn) đồng. Trả lại cho anh Trần Trung H1 510.000 (năm trăm mười nghìn) đồng.

Tch thu tiêu hủy 50 cuộn băng keo và 01 cân đồng hồ.

Đc điểm vật chứng theo Ủy nhiệm chi ngày 10/10/2019 và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/10/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S, Bùi Văn P, Nguyễn Minh Tr, Nguyễn Minh Đ2, Nguyễn Văn S2, Phạm Thế P1 và Đoàn Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HS-ST ngày 23/10/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:47/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Glong - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về