Bản án 47/2019/HSST ngày 20/08/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 47/2019/HSST NGÀY 20/08/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 20 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2019/HSST ngày 16 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Thị Huyền T, sinh năm 1975; Nơi ĐKHKTT và chổ ở: thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông Bùi Quang H (chết) và bà Đinh Thị N, sinh năm 1937; Có chồng là Y Bảy N, sinh năm 1978; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Lê Thị Y, sinh năm 1968; trú tại: thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Y Bảy N, sinh năm 1978; trú tại: thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 01/5/2019, Bùi Thị Huyền T điều khiển xe môtô biển số 78C1-nnn đến cửa hàng của chị Lê Thị Y ở đường P, phường B, thành phố T để mua than. Trong lúc mua than, T phát hiện chị Y để ví trên bao than nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khi chị Y không để ý thì T lén lút lấy trộm chiếc ví rồi cất giấu trong người. Sau đó T điều khiển xe môtô đi đến Công viên B thuộc phường M, thành phố T thì dừng xe kiểm tra bên trong có số tiền 9.800.000 đồng; 02 nhẫn vàng Y (9999) trọng lượng 1,5 chỉ và 01 chỉ; 01 lắc tay mắt xích vàng Y (9999), trọng lượng 03 chỉ và 01 số giấy tờ tùy thân khác. T lấy số tài sản gồm tiền và vàng đem về nhà cất giấu còn chiếc ví cùng giấy tờ thì ném vào đống rác cạnh đó.

Tại bản kết luận định giá ngày 06/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

+ 01 lắc tay mắt xích vàng Y (9999), trọng lượng 03 chỉ trị giá: 10.500.000 đồng;

+ 01 nhẫn vàng Y (9999), hiệu DOJI trọng lượng 1,5 chỉ trị giá: 5.980.000 đồng;

+ 01 nhẫn vàng Y (9999), hiệu Kim Túc trọng lượng 01 chỉ trị giá: 3.600.000 đồng.

Tổng giá trị định giá: 20.080.000 đồng Vật chứng vụ án:

- Đã thu giữ và trả lại chủ sở hữu: xe môtô biển số 78C1-nnn; số tiền 9.800.000 đồng; 01 lắc tay mắt xích vàng Y (9999), trọng lượng 03 chỉ; 01 nhẫn vàng Y (9999) trọng lượng 1,5 chỉ; 01 nhẫn vàng Y (9999) trọng lượng 01 chỉ.

- Đang tạm giữ chờ xử lý:

+ 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen, có ký hiệu “Nón sơn”; 01 áo khoác vải thun màu xanh đen; 01 choàng chân bằng vải nhiều màu sắc.

+ 01 đĩa DVD.

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 500.000 đồng, bị hại tự nguyện viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 16/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Thị Huyền T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: không xét; Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy đối với 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen, có ký hiệu “Nón sơn”, 01 áo khoác vải thun màu xanh đen, 01 choàng chân bằng vải nhiều màu sắc; tiếp tục lưu trữ 01 đĩa DVD kèm theo hồ sơ vụ án.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tuy Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội và phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 01/5/2019 tại đường P, phường B, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Bùi Thị Huyền T đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 chiếc ví bên trong có tài sản trị giá 29.880.000 đồng của chị Lê Thị Y. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 16/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[2.2] Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được nguời bị hại viết đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[2.3] Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo để trở thành người tốt. Căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên HĐXX không xét.

[4] Về xử lý vật chứng:

+ Các vật chứng gồm: 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen, có ký hiệu “Nón sơn”; 01 áo khoác vải thun màu xanh đen; 01 choàng chân bằng vải nhiều màu sắc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 đĩa DVD cần tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thị Huyền T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị Huyền T: 01 năm 03 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Thị Huyền T cho Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương nơi cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu xanh đen, có ký hiệu “Nón sơn”, 01 áo khoác vải thun màu xanh đen, 01 choàng chân bằng vải nhiều màu sắc (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa); Lưu trữ kèm hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Thị Huyền T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


32
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về