Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 12/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 47/2019/HNGĐ-ST NGÀY 12/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 158/2019/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 04 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2019/QĐXX-ST ngày 03 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đào Thị N, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

Đa chỉ: Thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Nguyễn Sỹ K, sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Đa chỉ: Thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Đào Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Sỹ K tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình vào ngày 13/12/2002. Sau đăng ký kết hôn chị và anh K chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan về điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh K chỉ lo chơi bời, uống rượu, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhiều lần còn đánh đập chị, chị và anh K đã sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vì vậy chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Sỹ K trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 29/05/2019 như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đào Thị N tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình vào ngày 13/12/2002. Sau khi đăng ký kết hôn anh và chị N chung sống bình thường, trong quá trình chung sống với nhau anh chị cũng có xảy ra mâu thuẫn cải nhau, có vài lần không kèm chế được bản thân nên anh có đánh chị N, chị N đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2018 cho đến nay. Hiện nay chị N yêu cầu ly hôn với anh, anh không đồng ý vì anh còn tình cảm vợ chồng với chị N, anh mong muốn chị N về đoàn tụ gia đình với anh mà không muốn ly hôn.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:

Theo đơn khởi kiện của chị Đào Thị N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Sỹ K, nơi cư trú của anh Nguyễn Sỹ K tại thôn A, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là vụ án “Hôn nhân gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3]. Về nội dung vụ án:

Xét quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Đào Thị N và anh Nguyễn Sỹ K tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Hòa Bình vào ngày 13/12/2002. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Đào Thị N và anh Nguyễn Sỹ K là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị N thấy rằng: Sau khi đăng ký kết hôn chị và anh K chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2013 thì nẫy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, nhiều lần anh K còn đánh đập chị, vì vậy chị Đào Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ K. Bị đơn anh Nguyễn Sỹ K xác nhận trong quá trình chung sống với nhau anh và chị N cũng có xảy ra mâu thuẫn cải nhau, có vài lần không kèm chế được bản thân nên anh có đánh chị N, chị N đã bỏ nhà đi từ cuối năm 2018 cho đến nay. Tuy nhiên hiện nay anh có nguyện vọng về đoàn tụ gia đình với chị N mà không muốn ly hôn vì anh còn tình cảm vợ chồng với chị N, chính quyền địa phương nơi cư trú của chị N và anh K xác nhận trong thời gian chung sống với nhau tại địa phương chị Đào Thị N và anh Nguyễn Sỹ K cũng xảy ra mâu thuẫn, nhiều lần cải vã và xô xát lẫn nhau, chính quyền địa phương đã cử cán bộ đến nhắc nhở nhiều lần về mâu thuẫn giữa chị N và anh K. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đào Thị N và anh Nguyễn Sỹ K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, thực tế thì cuối năm 2018 đến nay chị N và anh K đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh chị không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, do đó mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị N là phù hợp.

Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Đào Thị N phải chịu 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ và số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu tiền số 0009334 ngày 24/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đào Thị N, chị Đào Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Sỹ K.

[2] Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Đào Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo Biên lai thu số 0009334 ngày 24/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 12/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:47/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 12/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về