Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.MỸ THO-TIỀN GIANG  

BẢN ÁN 47/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 167/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Phạm Thị Ngọc Á, sinh năm 1995 (có mặt) Địa chỉ: 665, tổ 19, ấp T, xã B, huyện C, Tiền Giang

* Bị đơn: Lƣu Văn T, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: 198, ấp 2, xã Đ, TP.M, Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Phạm Thị Ngọc Á trình bày: chị và anh T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T đánh con, mẹ của chị Á la anh T thì anh tự bỏ nhà đi, anh T nóng tính, nói chuyện hay chửi thề, chị có nhắc nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Chị và anh T ly thân từ giữa năm 2018 đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh T.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lưu Tuấn Đ, sinh năm 2016. Chị Á đồng ý giao cháu Đ cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chị Á cấp dưỡng nuôi con 700.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Đ trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Lưu Văn T trình bày: anh thống nhất với phần trình bày của chị Á về quá trình hôn nhân và con chung. Vào năm 2018 anh và chị Á xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do mẹ chị Á hiểu lầm anh đánh con và có lời nói nặng với anh nên anh về nhà ở ấp 2, xã Đ sinh sống khoảng 01 tháng. Sau đó anh có trở về sống được 02 đến 03 tháng thì anh đi cho đến nay, ngoài ra anh và chị Á có bất đồng quan điểm trong chuyện tiền bạc. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị Á vì mâu thuẫn không trầm trọng, anh còn thương vợ, thương con.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Đ, sinh năm 2016. Trường hợp Tòa án cho ly hôn, anh yêu cầu được nuôi con, yêu cầu chị Á cấp dưỡng nuôi con 700.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Đ trưởng thành.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu: Từ khi thụ lý vụ kiện và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử đều đã thực hiện đúng qui định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng qui định Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: tại phiên tòa anh Tuấn đồng ý với các yêu cầu của chị

Á nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận như công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Á và anh T, giao cháu Đ cho anh T nuôi dưỡng, chị Á cấp dưỡng nuôi con 700.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Á và anh T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ. Chị Á và anh T có 01 con chung tên Lưu Tuấn Đ, sinh năm 2016.

Theo chị Á trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T đánh con, mẹ của chị Á la anh T thì anh bỏ nhà đi, anh T nóng tính, nói chuyện hay chửi thề, chị có nhắc nhiều lần nhưng anh T không thay đổi.

Còn theo anh T trình bày thì do anh có mâu thuẫn với mẹ vợ nên vợ chồng xảy ra cự cải và vợ chồng có mâu thuẫn trong chuyện tiền bạc. Tại phiên tòa hôm nay anh đồng ý theo các yêu cầu của chị Á, vì anh nhận thấy anh không thể hàn gắn được với chị Á.

Xét thấy, sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận về nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của hai bên đương sự và sự thỏa thuận này cũng phù hợp với qui định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: hai bên khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2] Về án phí: Chị Á phải chịu án phí theo qui định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các Điều 55, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Xử  : Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc Á và anh Lưu Văn T.

Giao cháu Lưu Tấn Đ, sinh ngày 13/3/2016 cho anh T nuôi dưỡng, chị Á có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 700.000 đồng/tháng, kể từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.

Chị Á có quyền tới lui thăm con, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Về án phí: Chị Á phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Ánh đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0013919 ngày 14/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho nên xem như đã nộp xong.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 47/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:47/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về