Bản án 47/2017/HSST ngày 16/08/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 47/2017/HSST NGÀY 16/08/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ B Đ, tỉnh Đ B xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 47/2017/HSST ngày 13/7/2017 đối với bị cáo:

L S P (tên gọi khác: Không) - Sinh năm: 1969.

Nơi sinh: Xã X D, huyện Đ B Đ, tỉnh Đ B.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T T B, xã P H, huyện Đ B Đ, tỉnh Đ B.

Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không học. Con ông: Lầu Dúa D (đã chết) và bà: Sùng Thị X (đã chết).

Vợ: Vàng Thị D - Sinh năm: 1970 và có 07 con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2017 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Lầu Sếnh P bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 09 giờ ngày 05 tháng 4 năm 2017, L S P một mình đi xe máy của gia đình đến trường cấp 3 M Nh, huyện Đ B để đón con trai là Lầu A T, khi đến khu vực bản B, xã M Nh, P gặp hai người đàn ông dân tộc Thái (một người khoảng 30 tuổi, một người khoảng 50 tuổi) ngồi ở lề đường, P dừng xe lại hỏi và mua được của người Thái này 30 cục Hêrôin gói trong túi nilon màu hồng với giá 400.000đ, mục đích để sử dụng. Mua được Hêrôin P cất dấu vào túi quần bên phải rồi đi tiếp khoảng 30m thì dừng lại lấy gói Hêrôin ra bẻ một nửa cục sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày P về nhà vẫn cất dấu gói Hêrôin vừa mua được trong túi quần. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày P đem theo Hêrôin đi lên lán nương thuộc bản T T B, xã P H. Đến 18 giờ 30 phút ngày 05/4/2017 Lầu Sếnh P bị Công an xã Pú Hồng bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số Hêrôin.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định ngày 06/4/2017, cơ quan điều tra Công an huyện Đ B Đ xác định trọng lượng vật chứng thu giữ của L S P gồm: 30 cục nhỏ chất bột màu trắng đục nghi Hêrôin có trọng lượng là 1,89 gam. Trích lấy 03 cục = 0,26 gam gửi giám định.

Tại kết luận giám định số: 375/GĐ-PC54 ngày 30/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục thu giữ của L S P gửi giám định là chất ma túy loại Hêrôin. Không hoàn trả lại mẫu vật sau khi giám định.

Tại Cáo trạng số: 32/QĐ-VKS-HS ngày 12 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ B Đ, tỉnh Đ B truy tố L S P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện VKSND huyện Đ B Đg vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Po cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194 Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo L S P từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự, Điều 76 của BLTTHS tịch thu và tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án. Bị cáo được miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo;

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Lầu Sếnh P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy rằng:

Xét về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo L S P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cụ thể: Vào khoảng 09 giờ ngày 05 tháng 4 năm 2017, L S P một mình đi xe máy của gia đình đến trường cấp 3 M Nh, huyện Đ B để đón con trai là L A T, khi đến khu vực bản B, xã M Nh, P gặp hai người đàn ông dân tộc Thái (một người khoảng 30 tuổi, một người khoảng 50 tuổi) ngồi ở lề đường, P dừng xe lại hỏi “Có Hêrôin bán không, nếu có thì bán cho 400.000đ”. Hai bên đã trao đổi việc mua, bán và P đã mua được 30 cục Hêrôin gói trong túi nilon màu hồng với giá 400.000đ, mục đích để sử dụng. Mua được gói Hêrôin P cất đấu vào túi quần bên phải rồi đi tiếp khoảng 30m thì dừng lại lấy gói Hêrôin ra bẻ một nửa cục sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày P về nhà và đến Khoảng 17 giờ cùng ngày P đem theo Hêrôin đi lên lán nương thuộc bản T T B, xã P H. Đến 18 giờ 30 phút ngày 05/4/2017 L S P bị Công an xã Pú Hồng bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số Hêrôin. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo L S P đã có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, đồng thời, còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện nhà.

Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do lỗi của bị cáo gây ra.

Xét về tính chất, mức độ phạm tội: Tuy chỉ mang tính chất giản đơn nhưng rất nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng. Bị cáo luôn nhận thức được tác hại của chất ma túy không những hủy hoại sức khỏe của con người mà còn là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các loại tội phạm khác. Song, bị cáo vẫn bất chấp tất cả, coi thường kỷ cương phép nước, miễn sao có lợi cho cá nhân bị cáo.

Xét về nhân thân: Bị cáo xuất thân từ gia đình nông dân thuần túy, được bố mẹ nuôi dưỡng trưởng thành bị cáo không đi học ở nhà lao động sản xuất rồi xây dựng gia đình và có 07 người con. Năm 2012 nghiện chất ma túy. Ngày 05/4/2017 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là một người chồng người người cha của 07 đứa con là người có tuổi đời không còn trẻ, lẽ ra, bị cáo phải tu chí làm ăn lương thiện làm chỗ dựa cho vợ, con noi theo mới phải . Song, bị cáo lại không làm được như vậy, chỉ thích ăn chơi, đua đòi, lười lao động. Từ đó, dẫn thân vào con đường nghiện chất ma túy để đến ngày 05/4/2017 bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và phải đứng trước vành móng ngựa như ngày hôm nay chịu sự trừng phạt của pháp luật là điều tất yếu.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình. Đây là, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Áp dụng Điểm h Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 thì tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, nhẹ hơn so với khung hình phạt tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Do đó, sẽ căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định có lợi cho bị cáo là phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa ngày hôm nay.

Song, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục cũng như cai nghiện cho bị cáo sau này trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh tài sản thì bị cáo Lầu Sếnh P hiện chỉ có 01 ngôi nhà gỗ ba hai gian, mái lợp Pờrô xi măng, tài sản trong nhà không có gì giá trị, gia đình đông con, thu nhập chính chủ yếu dựa vào nông nghiệp, bản thân nghiện chất ma túy. Do vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Về vật chứng vụ án: Gồm 1,89 gam Hêrôin đã giám định hết 0,26 gam còn lại 1,63 gam là hàng quốc cấm, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ.

Đối với hai người đàn ông dân tộc Thái, L S P khai là đã bán Hêrôin cho bị cáo. Quá trình điều tra chưa làm rõ được. Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

Đối với chiếc xe máy L S P dùng làm phương tiện phạm tội. Do chiếc xe đã hỏng, vợ bị cáo đã bán cho người mua sắt vụn do đó HĐXX không đặt vấn đề xem xét.

Về án phí: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghi Hội đồng xét xử miễn án phí án phí HSST. HĐXX thấy rằng bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số đang cư trú tại xã P H, huyện Đ B Đ nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, là đối tượng nghiện chất ma túy. Vì vậy, áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo L S P phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điều 33; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm h Khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo L S P 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 05/4/2017).

2. Về vật chứng vụ án:

- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu và tiêu hủy 1,89 gam Hêrôin đã gửi giám định hết 0,26 gam Hêrôin. Còn lại 1,63 gam Hêrôin.

Vật chứng trên đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đ B Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 11/7/2017 giữa cơ quan Công an huyện Đ B Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ B Đ.

3. Về án phí: Áp dụng Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo L S P.

Án xử công khai sơ thẩm, kết thúc cùng ngày. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/8/2017)


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về