Bản án 462/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 462/2018/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 531/2017/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1607/2018/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Thanh T, sinh năm 1991

Địa chỉ: xã T, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Công M, sinh năm 1988

Địa chỉ: RD # 33, Houston, TX 77037, USA. Chỗ ở hiện tại: LN Houston TX 77014, USA.

Đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Công M: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1967

Địa chỉ: Đường T, Phường M, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 07/11/2017, và bản tự khai, nguyên đơn bà Hồ Thanh T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Công M quen biết và tự nguyện kết hôn vào năm 2014 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 2594 Quyển số 13 ngày 31/10/2014.

Sau khi kết hôn bà và ông Nguyễn Công M chung sống với nhau ở Việt Nam hạnh phúc bình thường được một tháng, sau đó do bận công việc nên ông M quay về Hoa Kỳ làm việc và sinh sống và làm thủ tục bảo lãnh cho bà sang Hoa Kỳ đoàn tụ. Trong khoảng thời gian này bà và ông M có liên lạc với nhau qua điện thoại. Do tính chất công việc nên ông M thường xuyên thay đổi chỗ ở và công việc làm, thu nhập thấp dẫn đến cuộc sống khó khăn và ông bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Khoảng một năm trở lại đây bà và ông M không còn liên lạc với nhau. Hiện nay bà đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam còn ông M thì sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, do sự cách xa nhau về địa lý nên bà và ông M không có thời gian quan tâm, chăm sóc và vun vén hạnh phúc gia đình. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Công M.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung : không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Tại bản tự khai của bị đơn ông Nguyễn Công M đề ngày 10/01/2018 được Đại sứ quán Việt Nam tại Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ chứng thực chữ ký ngày 10/01/2018 có nội dung như sau: Ông và bà Hồ Thanh T kết hôn vào năm 2014 theo giấy chứng nhận kết hôn số 2594 Quyển số 13 ngày 31/10/2014 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn ông và bà T sinh sống với nhau một thời gian ngắn, sau đó do bận công việc nên ông trở về Hoa Kỳ và ông có hẹn sang Hoa Kỳ làm thủ tục bảo lãnh bà T sang Hoa Kỳ đoàn tụ gia đình. Trong khoảng thời gian này ông và bà T có liên lạc với nhau qua điện thoại. Nhưng do tính chất công việc nên ông thường xuyên phải thay đổi chỗ ở và công việc, trong một khoảng thời gian do khó khăn về kinh tế nên ông và bà T thường xảy ra mâu thuẫn và cãi vã, Khoảng một năm nay ông và bà T không còn liên lạc với nhau. Hiện tại ông đang sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, bà T đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Do sự cách xa về địa lý ông không có thời gian để chăm sóc, quan tâm và vun vén hạnh phúc gia đình. Ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông được biết bà Hồ Thanh T yêu cầu ly hôn với ông thì ông đồng ý.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung : Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hồ Thanh T, bị đơn ông Nguyễn Công M đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

1/ Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết :

Nguyên đơn bà Hồ Thanh T đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam, bị đơn ông Nguyễn Công M đang cư trú tại Hoa kỳ, giữa đôi bên có tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; Điều 464; Điều 465; điểm g khoản 1 Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 122; Điều 123; Điều 124 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm :

Bà Hồ Thanh T và ông Nguyễn Công M đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử  vắng mặt các đương sự.

Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

2/ Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy:

Bà Hồ Thanh T và ông Nguyễn Công M tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2014, có làm thủ tục đăng ký kết hôn vào sổ đăng ký kết hôn số 2594 Quyển số 13 ngày 31/10/2014 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Như vậy hôn nhân giữa đôi bên là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

Theo lời khai của đôi bên thì sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Việt Nam được khoảng thời gian ngắn. Sau đó ông M trở về Hoa Kỳ vợ chồng có liên lạc qua điện thoại, khoảng một năm nay ông bà không còn liên lạc với nhau. Do thiếu sự quan tâm lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng và tin tưởng, quan điểm và suy nghĩ khác biệt nên tình cảm vợ chồng dần lạnh nhạt, dù đã cố gắng hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn không thể tiếp tục cuộc hôn nhân được nữa và có yêu cầu được ly hôn. Ý kiến của ông Nguyễn Công M cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà T.

Xét, về tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ cả hai phía cũng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau.

Thực tế vợ chồng đã không còn sống cùng nhau, không tạo được điều kiện hàn gắn tình cảm vợ chồng để tiếp tục cuộc hôn nhân hạnh phúc. Do đó, nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không thể đạt được. Việc bà T yêu cầu ly hôn là có căn cứ và phù hợp với pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Đôi bên thống nhất không có

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thanh T và ông Nguyễn Công M đều khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 464; điểm d khoản 1 Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 53; Điều 54; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự 2008;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1/ Quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thanh T được ly hôn ông Nguyễn Công M. Giấy chứng nhận kết hôn số số 2594 Quyển số 13 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/10/2014 không còn giá trị pháp lý kể tự ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung, tài sản chung và nợ chung : Bà Hồ Thanh T và ông Nguyễn Công M khai không có.

3/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Hồ Thanh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền bà T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2017/0048181 ngày 17/11/2017 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Hồ Thanh T đã nộp đủ án phí.

4/ Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn bà Hồ Thanh T và bị đơn ông Nguyễn Công M; Bà Hồ Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Ông Nguyễn Công M được quyền kháng cáo trong hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 462/2018/HNGĐ-ST ngày 18/04/2018 về ly hôn

Số hiệu:462/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về