Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/04/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1263/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2020 và theo Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 42/2020/TB - TA ngày 01 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kim C, sinh năm 1964.

Địa chỉ: ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh L.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L.

(Bà C có mặt, ông T có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 09/12/2019, nguyên đơn bà Trần Kim C trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T cưới nhau vào năm 1984, không có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống đến năm 1992 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường gây gỗ, cãi vã nhau, bà và ông T đã ly thân từ năm 1992 đến nay. Nay bà C khởi kiện yêu cầu:

Về tình cảm: Bà Trần Kim C yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1990 và Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành nên bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Tại bản tự khai ngày 16/3/2020, ông T có ý kiến trình bày thống nhất về điều kiện kết hôn, thời gian chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như bà C đã trình bày. Nay bà C xin ly hôn ông T đồng ý.

Về con chung, thống nhất có 04 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1990 và Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành nên ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông T có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Trần Kim C khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn T, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh L là nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về t tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn T có đề nghị xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3]. Về nội dung vụ án:

[3.1]. Về tình cảm: Xét quan hệ hôn nhân giữa bà C và ông T:

Bà C và ông T đều thừa nhận đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984, không có đăng ký kết hôn. Việc bà C và ông T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984 đến nay không đăng ký kết hôn, được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế theo điểm a khoản 3, Nghị Quyết 35/2000/QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình năm 2000. Nay bà C xin ly hôn với ông T được xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 14, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu ly hôn của bà c đối với ông T: Bà C cho rằng nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm nên hay gây cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc, ông T đã lập gia đình và chung sống với người khác nên bà C và ông T đã xa nhau từ năm 1992 đến nay. Căn cứ bản tự khai ngày 16/3/2020, thì ông T thừa nhận lời trình bày của bà C là đúng về thời gian chung sống cũng như mâu thuẫn gia đình, hai bên đã không còn chung sống từ năm 1992 đến nay. Nay bà C xin ly hôn, ông T thấy tình nghĩa vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn.

Xét bà C và ông T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984 đến nay không đăng ký kết hôn. Theo quy định điểm a khoản 3, Nghị Quyết 35/2000/QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân gia đình năm 2000 thì quan hệ hôn nhân của bà C và ông T được pháp luật công nhận là hôn nhân thực tế. Từ đó, Hội đồng xét xử xét bà C yêu cầu xin ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2]. Về con chung: Có 04 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1990 và Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992. Các con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Kim C, ông Nguyễn Văn T thống nhất trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc nguyên đơn bà Trần Kim C phải chịu án phí ly hôn sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng các Điều 14, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 3, Nghị Quyết 35/2000/QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn thi hành luật Hôn nhân gia đình năm 2000.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Kim C đối với ông Nguyễn Văn T .

Bà Trần Kim C được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Các con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1985; Nguyễn Văn B, sinh năm 1988; Nguyễn Thị Kiều H, sinh năm 1990 và Nguyễn Trọng N, sinh năm 1992 đã trưởng thành nên không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Kim C và ông Nguyễn Văn T xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Bà Trần Kim c phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước, khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí mà bà C đã nộp theo biên lai số 0004246 ngày 10/2/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hoà sang án phí để thi hành. Bà Trần Kim C đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.

Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án”


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 27/04/2020 về ly hôn

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/04/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về