Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 21/07/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 46/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2020/TLST-HN ngày 29 tháng 4 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-HN ngày 26 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2020/QĐST-HN ngày 08 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim Ng, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp A, xã TL, huyện TP, tỉnh TG (xin vắng mặt).

2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980. Địa chỉ: Ấp B, xã TL1, huyện TP1, tỉnh TG1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

*Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 4 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Ng trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2008, chị và anh Đ được sự chấp thuận của hai bên gia đình anh chị sống chung và có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã TL1, huyện TP, tỉnh TG cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 08-02- 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, thời gian sau này anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống anh Đ không quan tâm chăm lo gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 6-2019 cho đến nay nhưng không hàn gắn được. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Đ.

Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có một con chung Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 20-6-2019. Hiện nay cháu L đang sống cùng chị, khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

*Bị đơn Nguyễn Văn Đ:

Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi mở phiên tòa, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn, gửi bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ anh Đ nhiều lần nhưng anh Đ vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Ng tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ, địa chỉ: Ấp B, xã TL1, huyện TP1, tỉnh TG nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Bùi Thị Kim Ng có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Nguyễn Văn Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Kim Ng và anh Nguyễn Văn Đ sống chung năm 2008 có đăng ký kết hôn năm 2012 được Ủy ban nhân xã TL1, huyện TP1, tỉnh TG cấp giấy chứng nhận kết hôn; quan hệ hôn nhân giữa chị Ng và anh Đ là hôn nhân hợp pháp. Xét tình cảm giữa chị Ng và anh Đ sống chung hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không phù hợp tính tình, theo chị Ng thì anh Đ không quan tâm lo lắng cho vợ con. Anh chị ly thân từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay, thời gian ly thân anh chị không hàn gắn hạnh phúc được. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để anh chị hàn gắn đoàn tụ nhưng anh Đ không đến tham dự cũng không có ý kiến đối với yêu cầu của chị Ng, nay chị Ng cương quyết xin ly hôn do không còn tình cảm với anh Đ, điều đó chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị Kim Ng.

[4] Về nuôi con chung: Quá trình sống chung, anh chị có một con chung Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 20-6-2009. Hiện nay cháu L đang sống cùng chị Ng. Chị Ng có nguyện vọng được nuôi con khi ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu L đang sống ổn định cùng chị Ng, cháu L có nguyện vọng sống cùng chị Ng khi Tòa án giải quyết ly hôn, chị Ng có chỗ ở ổn định và có nguồn thu nhập đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu L, nên cần thiết tiếp tục giao cháu L cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống và tâm lý cho cháu L. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, giao con chung Nguyễn Thị Trúc L cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

[5]Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Bùi Thị Kim Ng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Chị Bùi Thị Kim Ng phải chịu án phí HNST theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56. Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim Ng và anh Nguyễn Văn Đ.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Trúc L, sinh ngày 20- 6-2009 cho chị Bùi Thị Kim Ng trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Nguyễn Văn Đ được quyền thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn Đ chưa phải đóng góp nuôi con chung do chị Bùi Thị Kim Ng chưa có yêu cầu.

3.Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4.Về án phí: Chị Bùi Thị Kim Ng phải chịu 300.000 đồng án phí HNST được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 20355 ngày 27-4-2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang. Chị Ng đã nộp đủ án phí HNST.

5. Quyền kháng cáo: Chị Ng, anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST ngày 21/07/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

Số hiệu:46/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Phước - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về