Bản án 46/2020/DS-ST ngày 22/07/2020 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 46/2020/DS-ST NGÀY 22/07/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2020/QĐXX-ST ngày 15 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng chính sách xã hội V. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Đa chỉ trụ sở chính: số xxx, phố L, phường H, quân H, thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Long T - Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K – Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh S. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng tại Tòa án: Ông Nguyễn Chí C– Chúc vụ Phó giám đốc Phòng giao dịch Ngân chính sách xã hội huyện K– Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh S.

Đa chỉ trụ sở phòng giao dịch: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh S.

2. Bị đơn: Ông Thạch N, sinh năm: 1952.

Đa chỉ: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh S.

3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Thạch Sơn L, sinh năm 1986

Địa chỉ: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh S.

(Đại diện Ngân hàng có mặt; Các đương sự còn lại đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2020, các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng chính sách xã hội V – người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Chí Ctrình bày:

Vào ngày 03/11/2005, Ngân hàng chính sách xã hội V và ông Thạch N có ký kết Hợp đồng tín dụng số 02XKLD12, theo đó ông Năm sẽ được Ngân hàng chính sách xã hội cho vay số tiền 16.000.000 đồng.

Mục đích vay: Hỗ trợ chi phí xuất khẩu lao động nước ngoài Thời hạn vay: 36 tháng.

Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 0,5%/ tháng, tiền vốn và lãi phát sinh trả 12 tháng/01 kỳ, hạn trả cuối là ngày 07/10/2008.

Sau khi vay tiền, hộ ông Thạch N không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền vốn và lãi phát sinh theo thỏa thuận và cũng không thanh toán nợ gốc khi đến hạn, gây thiệt hại đến quyền lợi của ngân hàng.

Vì vậy, Ngân hàng chính sách xã hội V yêu cầu ông Thạch N, bà Sơn Thị Lôi và anh Thạch Sơn L phải cùng chịu trách nhiệm thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 12.000.000 đồng và lãi phát sinh tính đến ngày 22/7/2020.

Tại đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 12/6/2020, Ngân hàng chính sách xã hội V có ý kiến như sau:

Ngân hàng chính sách xã hội V không yêu cầu bà Sơn Thị L cùng chịu trách nhiệm trả nợ với ông Thạch N và anh Thạch Sơn L theo như nội dung đơn khởi kiện ngày 05/5/2020 đã nộp cho Tòa án.

Do bà Lôi đã chết. Cho nên, nay Ngân hàng chính sách xã hội V chỉ yêu cầu ông Thạch N và anh Thạch Sơn L trả số tiền vốn vay còn nợ là 12.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng vay vốn.

Bị đơn là ông Thạch N vắng mặt.

Tại bản tự khai ngày 12/6/2020, bị đơn là ông Thạch N trình bày:

Gia đình ông Thạch N có vay nợ của ngân hàng chính sách. Gia đình ông Năm đồng ý trả cho ngân hàng 12.000.000 đồng và lãi phát sinh nhưng xin trả hàng tháng 100.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Thạch Sơn L vắng mặt.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Tư cách của người tham gia tố tụng tuân thủ theo đúng quy định của Điều 68, 70, 71, 72, 234 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội V là có căn cứ và chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Về án phí và chi phí tố tụng: đề nghị Hội đồng xét xử quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai những vắng mặt không rõ lý do và cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Kế Sách đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ và đúng với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 3, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dấn sự năm 2015.

[2] Về việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Tại phiên Tòa, nguyên đơn vấn giữ ý kiên xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Sơn Thị Lôi cùng chịu trách nhiệm trả nợ với ông Thạch N và anh Thạch Sơn L theo như nội dung đơn khởi kiện ngày 05/5/2020 đã nộp cho Tòa án. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không ai ép buộc và không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã trình bày là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 244 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Về chứng cứ trong vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có cung cấp chứng cứ là Hợp đồng tín dụng số 02XKLD12 ngày 03/11/2005 và Giấy đề nghị vay vốn đi lao động có thời hạn ở nước ngoài ngày 25/10/2005 đều thể hiện việc nguyên đơn có cho hộ gia đình bị đơn vay số tiền 16.000.000đ, để hỗ trợ chi phí đi xuất khảu lao động tại nước ngoài nhằm tạo sự phát triển về kinh tế cho gia đình bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cũng thừa nhận nội dung vay tiền và số tiền vốn còn nợ như nguyên đơn khởi kiện. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định, giữa nguyên đơn và bị đơn cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện giao dịch về tài sản thông qua Hợp đồng tín dụng số 02XKLD12 ngày 03/11/2005 đề nghị hỗ trợ vay vốn có kỳ hạn và có lãi theo quy định của pháp luật là có thật.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn: Ti phiên Tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ số tiền vay còn nợ. Xét thấy, việc bị đơn vay tiền với mục đích sử dụng vì lợi ích chung của hộ gia đình, cho nên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn là phù hợp. Do bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thanh toán tiền vốn vay và lãi phát sinh cho nguyên đơn là đã vi phạm thỏa thuận giữa các bên, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Cho nên, yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng chịu trách nhiệm thanh toán số tiền vốn vay còn nợ là 12.000.000 đồng và 11.715.176 đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày 22/7/2020. Cộng chung là 23.715.176 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm mười lăm ngàn một trăm bảy mươi sáu đồng) là chính đáng, có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 103 và Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đi với ý kiến của bị đơn xin trả dần mỗi tháng 100.000 đồng. Xét thấy, do nguyên đơn không đồng ý và cũng không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét ý kiến này của bị đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Yêu cầu về tiền của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải cùng chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều 91, Điều 93, Điều 94, Điều 95, khoản 2, Điều 227, khoản 3, Điều 228, khoản 1, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 103, Điều 280, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 12, Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi bổ sung năm 2017Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 12/12/2017 của Văn phòng Quốc hội.

Căn cứ Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 17/8/2016 và công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17/10/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Điều 7, Điều 8 và Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng chính sách xã hội V. Buộc ông Thạch N và anh Thạch Sơn L cùng chịu trách nhiệm trả cho Ngân hàng chính sách xã hội V số tiền vốn vay còn nợ là 12.000.000 đồng và 11.715.176 đồng tiền lãi phát sinh tính đến ngày 22/7/2020. Cộng chung là 23.715.176 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm mười lăm ngàn một trăm bảy mươi sáu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Thạch N và anh Thạch Sơn L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng vay vốn, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng chính sách xã hội V thì lãi suất mà ông Thạch N và anh Thạch Sơn L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội V theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng chính sách xã hội V.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Mức lãi suất hai bên thỏa thuận là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn.

[2] Về án phí:

Ngân hàng chính sách xã hội V không phải chịu tiền án phí DSST. Do Ngân hàng chính sách xã hội V không nộp tiền tạm ứng án phí thuộc trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 11 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên xem như xong, không có hoàn lại gì.

Ông Thạch N và anh Thạch Sơn L phải cùng chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.185.759 đồng (một triệu một trăm tám mươi lâm ngàn bảy trăm năm mươi chín đồng).

Án xử công khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.

Ông Thạch N và anh Thạch Sơn L không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Đi với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


56
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về