Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 273/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2019, về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1986. Địa chỉ: Xóm D, thôn T, xã C, huyện P, tỉnh B. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn 2, xã A, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/4/2019, bản khai và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Cao Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 54, ngày 27/6/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian, nhưng đến khoảng 5/2015 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, mà hay uống rượu rồi gây sự đánh vợ con nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân 03 năm nay và không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hòa giải được nên chị H xin được ly hôn với anh H.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 07/4/2010 và cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/10/2013. Hiện nay 02 con chung đang do chị H nuôi dưỡng. Ly hôn chị H xin được nuôi 02 con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn là anh Nguyễn Thanh H mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H vắng mặt nên không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ý kiến Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: chị H và anh H mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H xử cho chị H ly hôn với anh H.

- Con chung: Giao 02 con chung cho chị H nuôi dưỡng là có căn cứ và cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Về cấp dưỡng: không yêu cầu và tài sản chung, nợ chung không có.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Cao Thị H có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H, có địa chỉ: Thôn 2, xã A, thành phố P, tỉnh G. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn là anh Nguyễn Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Nguyễn Thanh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 54, ngày 27/6/2013. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H là hôn nhân hợp pháp.

[3] Chị H cho rằng nguyên nhân dẫn tới mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn, hay uống rượu về gây sự đánh vợ con nhiều lần. Hiện nay vợ chồng không còn tình cảm và mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hòa giải được và đã sống ly thân.

Mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án anh H cũng không có ý kiến thể hiện mong muốn đoàn tụ vợ chồng, từ đó cho thấy anh H không có thiện chí để Tòa án hòa giải đoàn tụ mà để mặc. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

[4] Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 07/4/2010 và cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/10/2013. Hiện nay 02 con chung đang do chị H nuôi dưỡng. Ly hôn chị H xin được nuôi 02 con chung, đối với anh H không có ý kiến gì thể hiện nguyện vọng muốn được nuôi con. Mặt khác, trong thời gian các cháu sống chung với chị H, được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng đảm bảo quyền lợi của các con. Nguyện vọng được nuôi con của chị H cũng phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu là muốn ở với mẹ khi Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn với anh H. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu của chị H xin được nuôi 02 con chung là có cơ sở nên chấp nhận.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu. Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

[7] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điểm b khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

X: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị H.

- Về hôn nhân: Chị Cao Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T, sinh ngày 07/4/2010 và cháu Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 17/10/2013 ( 02 con chung đang do chị H nuôi dưỡng).

Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Cẩm T và cháu Nguyễn Ngọc T cho chị Cao Thi Hòa trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Tiên và cháu Truyền đã thành niên và có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự. Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Không bên nào được cản trở quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc quyết định việc thay đổi mức cấp dưỡng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về án phí: Chị Cao Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mà chị Cao Thị H đã nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0001337 ngày 17/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vậy chị Cao Thị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.


68
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về