Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 340/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30.10.2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 39/2019/QĐST-HN ngày 14.11.2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh H- Sinh năm 1987. Có mặt

- Bị đơn: Ông Trần Ngọc Duy X - sinh năm 1979. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do

Cùng trú tại: Tổ 11, phường HHB, quận L, TP.Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn Bà Trần Thị Thanh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Ngọc Duy X kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND phường HHB, quận L, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống, vợ cH tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn là do vợ cH tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm, thường X xảy ra cải vã, có lúc xảy ra xô xát. Ông X ham mê cờ bạc, không chịu lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con. Nay tôi nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông X.

-Về con chung: trong thời gian chung sống tôi và Ông X có 02 con chung là Trần Ngọc Mai L, sinh ngày 02.6.2011 và Trần Diệu N, sinh ngày 20.3.2016. Ly hôn tôi xin nuôi 02 con chung là Trần Diệu N và Trần Ngọc Mai L cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Ông X cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có

* Bị đơn là ông Trần Ngọc Duy X không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh H kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn ông Trần Ngọc Duy X không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về nội dung vụ án: Xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của bà H và ông X đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được mâu thuẫn vợ cH đã được UBND phường Hòa Hiệp Bắc xác nhận nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.

Về con chung có 02 con chung là Trần Ngọc Mai L, sinh ngày 02.6.2011 và Trần Diệu N, sinh ngày 20.3.2016. Ly hôn bà H xin nuôi 02 con chung là Trần Diệu N và Trần Ngọc Mai L cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu Ông X cấp dưỡng nuôi con chung.

Hiện nay bà H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, con chung còn nhỏ nên đề nghị HĐXX giao hai con chung cho bà H nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà H không yêu cầu nên không xem xét .

- Về tài sản chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

- Về nợ chung: bà H khai nhận không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Trần Thị Thanh H và ông Trần Ngọc Duy X thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 14.11.2019 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Trần Ngọc Duy X, nhưng ông X vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông X.

[2]Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thanh H và ông Trần Ngọc Duy X thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh H và ông Trần Ngọc Duy X kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND phường HHB, quận L, TP. Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Trong quá trình chung sống, vợ cH bà H và ông X luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn là do vợ cH tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm, thường X xảy ra cải vã, có lúc xảy ra xô xát. Ông X ham mê cờ bạc, không chịu lo làm ăn, không có trách nhiệm với vợ con. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông X.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Trần Ngọc Duy X mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H. Theo đơn xác minh tại UBND phường HHB, quận L, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ cH giữa bà H và ông X đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông X không có trách nhiệm gì với gia đình, ham mê cờ bạc nên vợ cH hay cãi vả với nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông X đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà H yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: bà H khai nhận bà và ông X có 02 con chung là Trần Ngọc Mai L, sinh ngày 02.6.2011 và Trần Diệu N, sinh ngày 20.3.2016. Ly hôn bà H xin nuôi 02 con chung là Trần Diệu N và Trần Ngọc Mai L cho đến khi đủ tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con chung.

HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Bản thân bà H có công việc và thu nhập ổn định, hơn nữa nguyện vọng của cháu Mai Linh xin ở với mẹ còn cháu Diệu Ngân còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ. Do đó, HĐXX xét thấy việc giao 02 con chung cho bà H nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của các cháu và hoàn toàn phù hợp với Điều 81,82,83 Luật HNGĐ.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H không yêu cầu Ông X cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

-Về tài sản chung: bà H không yêu cầu nên không xem xét

- Về nợ chung: bà H khai nhận không có Nếu sau này bà H và ông X có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà H phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83,84 Luật HNGĐ;

- Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 BLTTDS;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị Thanh H đối với ông Trần Ngọc Duy X .

Tuyên xử: Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1987, được ly hôn với Ông Trần Ngọc Duy X , sinh năm 1979.

Giấy chứng nhận kết hôn số 124, quyển số 01/2011 cấp ngày 31.12.2010 của UBND phường HHB, quận L, TP. Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Tuyên: Giao hai con chung là Trần Ngọc Mai L, sinh ngày 02.6.2011 và Trần Diệu N, sinh ngày 20.3.2016 cho bà Trần Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Bà Trần Thị Thanh H không yêu cầu ông Trần Ngọc Duy X cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung: Bà Trần Thị Thanh H không yêu cầu nên không xem xét

4. Về nợ chung: Bà Trần Thị Thanh H khai nhận không có

5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng Bà Trần Thị Thanh H phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006442 ngày 16.9.2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà H đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 29/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về