Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nH dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 190/2019/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 8 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/10/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 121/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/11/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Mộng H, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Số 34, Ấp Thọ HĐ B, xã PT, huyện CT, tỉnh ST.

- Bị đơn: Anh Trương Cao C, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 34, Ấp Thọ Hòa Đông B, xã PT, huyện CT, tỉnh ST.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 29/7/2019, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Huỳnh Thị Mộng H trình bày:

Chị và anh C tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nH dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/01/2018; chị và anh C có 01 con chung tên Trương Gia H, sinh ngày 29/7/2018. Thời gian đầu chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nH do bất đồng quan điểm; tài sản chung, nợ chung không có.

Chị H yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn; chị xin được nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn Trương Cao C:

Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn hợp lệ, nhưng đến nay bị đơn không có ý kiến bằng văn bản gởi cho Toà án đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn; Toà án đã tống đạt thông báo, giấy triệu tập về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ đến lần thứ 2, nhưng bị đơn vắng mặt không lý do, nên Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tòa án tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên Tòa, nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử xét áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tung dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

[1] Xét thấy chị Huỳnh Thị Mộng H và anh Trương Cao C tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nH dân phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/01/2018, phù hợp theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

Thời gian đầu chung sống anh, chị rất hạnh phúc, nhưng thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nH do bất đồng quan điểm. Tại phiên tòa chị H cương quyết xin ly hôn, do đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh C và chị H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 cho ly hôn là phù hợp.

[2] Về con chung: Chị H và anh C có 01 con chung tên Trương Gia H, sinh ngày 29/7/2018, chị H yêu cầu xin được nuôi con.

Xét thấy cháu Trương Gia H, sinh ngày 29/7/2018, cho đến thời điểm hiện nay cháu H mới 15 tháng 27 ngày tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình"Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi,...". Do đó giao cháu H cho chi H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho anh C theo khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.

Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên chị H phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình.

[4] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kểm sát là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tung dân sự.

- Khoản 1 Điều 56; Điều 81; khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Huỳnh Thị Mộng H và anh Trương Cao C.

- Về con chung: Giao con chung tên Trương Gia H, sinh ngày 29/7/2018 cho chi Huỳnh Thị Mộng H chăm sóc, nuôi dưỡng đến trưởng thành; giành quyền, nghĩa vụ thăm nom con cho anh C.

- Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

- Án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn) theo biên lai thu tiền số 0008823 ngày 29/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Toà án nH dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 26/11/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về