Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 20/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 20/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 12 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 537/2018TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1980. (Có mặt) Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Lê Thanh T, sinh năm 1979. (Vắng mặt) Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/9/2018 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Phạm Thị Đ trình bày:

Chị và anh T cưới nhau vào năm 2004 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống có hạnh phúc, đến tháng 2/2017 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh T thường xuyên ăn nhậu, không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị Đ và anh T đã sống ly thân từ tháng 2/2017 đến nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/5/2004 và Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/11/2007. Các con đang sống với anh T, chị Đ không có yêu cầu nuôi con, con theo ai người đó nuôi.

Về tài sản chung, nợ chung: chị Đ khai không có.

Vụ kiện đã được Tòa án mở phiên hoà giải nhưng không hoà giải được do anh T không đến. Do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: không vi phạm tố tụng. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại. Anh Lê Thanh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hôn nhân: Chị Phạm Thị Đ và Lê Thanh T chung sống với nhau vào năm 2004 có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 28/12/2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa anh T và chị Đ thời gian đầu có hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nay chị Đ yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh T. Căn cứ vào lời trình bày của chị Đ; căn cứ vào biên bản xác minh tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân của anh T, chị Đ đã phát sinh và tồn tại nhiều mâu thuẫn, nay chị Đ nộp đơn xin ly hôn với anh T. Tòa án cũng đã mở phiên hòa giải động viên, tạo điều kiện để hai bên hàn gắn, đoàn tụ trở lại nhưng anh T không đến, có ý thức bỏ mặc cuộc hôn nhân của hai anh chị. Xét thấy, đời sống chung của chị Đ, anh T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/5/2004 và Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/11/2007. Tại Biên bản ghi ý kiến con, cháu T không quyết định được sẽ sống chung với ai, cháu T muốn được sống với cha. Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo được quyền và lợi ích của con chung, không nên thay đổi môi trường sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ, nên cần giao con cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của con. Về cấp dưỡng nuôi con, do Tòa án không làm việc được với anh T, xem như anh T không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên hội đồng xét xử không xét đến.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ khai không có nên không xét đến.

[3] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: nguyên đơn chị Đ phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ các Điều 227, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Đ đối với anh Lê Thanh T.

Chị Phạm Thị Đ được ly hôn anh Lê Thanh T. Quan hệ hôn nhân của chị Đ, anh T chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: có 02 con chung tên Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/5/2004 và Lê Thị Phương T, sinh ngày 26/11/2007. Các con đang sống với cha, giao hai con cho anh Lê Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng.

Cấp dưỡng nuôi con, anh T không yêu cầu nên không xét đến.

Chị Đ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ khai không có, nên không xét đến.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Phạm Thị Đ phải chịu 300.000 đồng. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp theo biên lai thu số 0020968 ngày 05/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre được khấu trừ vào án phí, chị Đ đã nộp đủ án phí.

Chị Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh T vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 20/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Đại - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:20/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về