Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 06/05/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 199/2019/TLST-HNGĐ ngày 22/3/2019 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2019/QĐXX-ST ngày 11/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/4/2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm: 1988 (có mặt).

Địa chỉ: 65/3, đường N, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Minh H1, sinh năm: 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: 38/2, đường Đ, phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Thu H trình bày:

Tôi và anh H1 chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang năm 2011, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống về kinh tế gia đình, ông H1 ăn nhậu không lo làm ăn, không lo cho vợ con, vợ chồng sống ly thân tháng 6/2016 cho đến nay. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh H1.

Con chung: Có 03 con Nguyễn Minh T ngày 02/5/2011, Nguyễn Minh L sinh ngày 01/7/2012, Nguyễn Minh G sinh ngày 02/8/2016, khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi ba con, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi ba con.

Tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Ông Nguyễn Minh H1 được Tòa án tống đạt hợp các văn bản tố tụng theo quy của pháp luật, nhưng ông H1 không đến tham gia phiên tham gia các phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán tuân thủ đúng quy định của pháp luật như tiến hành xác minh, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật, bà H tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa tuân thủ đúng qui định pháp luật. Riêng ông H1 không tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tóm tắt và nhận định nội dung vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu H; Giao cho bà H trực tiếp ba cháu Nguyễn Minh T ngày 02/5/2011, Nguyễn Minh L sinh ngày 01/7/2012, Nguyễn Minh G sinh ngày 02/8/2016, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi ba con; Tài sản chung không có, nợ chung không có nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Thị Thu H và anh Nguyễn Minh H1 là tranh chấp “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

[2] Tại phiên tòa bà Trần Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Minh H1; Con chung có 03 con Nguyễn Minh T ngày 02/5/2011, Nguyễn Minh L sinh ngày 01/7/2012, Nguyễn Minh G sinh ngày 02/8/2016, khi ly hôn bà yêu cầu trực tiếp nuôi ba con, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi ba con; Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có.

[3] Tại phiên tòa ông Nguyễn Minh H1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng ông H1 không đến tham gia phiên tòa và cũng không cung cấp văn bày trình bày ý kiến để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Minh H1. Xét các yêu cầu của các đương sự:

[1] Bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Minh H1 chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn năm 2011 tại UBND phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016, thì phát sinh do bất đồng quan điểm trong cuộc sống ông H1 ăn nhậu không lo làm ăn, không lo cho vợ con, vợ chồng sống ly thân tháng 6/2016 cho đến nay. Xét thấy bà H và ông H1chung sống với nhau năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố M, tỉnh Tiền Giang năm 2011, ông bà chung sống hạnh phúc năm 2016, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H1 ăn nhậu không lo làm ăn, không lo cho vợ con, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2016 cho đến nay. Ông H1 đã về bên cha mẹ ruột sống, ông H1 không tới lui thăm vợ con và ông H1 không đưa ra biện pháp vợ chồng đoàn tụ lo cho các con. Tại phiên tòa bà H yêu cầu ly hôn ông H1. Ông H1 được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông H1 không đến tham gia và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến của ông H1 để Hội đồng xét xử xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa bà H với ông H1 không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Bà H yêu cầu ly hôn với ông H1 là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thu H.

[2] Về con chung: Có 03 con Nguyễn Minh T ngày 02/5/2011, Nguyễn Minh L sinh ngày 01/7/2012, Nguyễn Minh G sinh ngày 02/8/2016. Xét thấy cháu T, cháu L, cháu G từ nhỏ đến khi ông bà có mâu thuẫn thì sống chung sống ông bà, nhưng từ ngày ông bà có mâu thuẫn cũng như ông bà sống ly thân cho đến nay bà H là người trực tiếp nuôi cháu T, cháu L, cháu G chăm sóc nuôi dưỡng ăn học chu đáo, ông H1 không đến thăm và chăm sóc phụ nuôi các con với bà H. Do đó bà H yêu cầu trực tiếp nuôi ba con là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H yêu cầu trực tiếp nuôi cháu T, cháu L, cháu G.

[3] Tại phiên tòa bà H là người trực tiếp nuôi các con nhưng bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T, cháu L, cháu G nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[6] Về án phí HNGĐ-ST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bàTrần Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đỉnh.

Xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thu H.

- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Minh H1.

- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Thu H trực tiếp nuôi Nguyễn Minh T ngày 02/5/2011, Nguyễn Minh L sinh ngày 01/7/2012, Nguyễn Minh G sinh ngày 02/8 2016. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi ba con. Anh H1 có quyền đến trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

2/ Về án phí HNGĐ-ST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bà Trần Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà H đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0013975 ngày 22/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

3/ Bà Trần Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Nguyễn Minh H1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 06/05/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về