Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP HÀ NỘI

BẢN ÁN 46/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Ngày 02 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Chu Thị T – sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã L1, huyện Ư, TP. Hà Nội

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V – sinh năm 1990(vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V1, huyện Ư, TP. Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn ly hôn, biên bản tự khai, biên bản hòa giải chị Chu Thị T là nguyên đơn trình bày: Chị và anh V qua một thời gian tìm hiểu thì cả hai kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã V1 tháng 4/2018. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng liên tục xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung. Anh V liên tục chửi mắng chị. Đặc biệt khi chị chửa, anh không quan tâm, chăm sóc mà luôn chửi chị, bảo chị phải bỏ thai. Chị luôn sống trong lo lắng, rồi sảy thai. Khi chị sảy thai, chị về nhà chồng ở, sống chung với gia đình chồng nhưng anh V và mọi người không ai hỏi han, quan tâm đến chị. Chị đã cố gắng hòa hợp với chồng, gia đình chồng nhưng vẫn liên tục mâu thuẫn. Sau đó, hai vợ chồng xảy ra xích mích cái nhau, anh V đuổi chị đi nên chị về nhà ngoại ở. Khi về nhà ngoại ở, anh V lên nhà chị gây sự, bố mẹ chị phải báo công an và gọi bố anh V lên đưa anh V về. Từ đó, hai anh chị sống ly thân cho đến nay không ai hỏi han, quan tâm đến nhau đã hơn một năm. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh V. Về con chung: chưa có. Về tài sản, công nợ chung: chị không yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn V không có quan điểm, ý kiến gì.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh Nguyễn Văn V vắng mặt, chị Chu Thị T có mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử cho chị Chu Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn V.Chị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Chu Thị T đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập anh Nguyễn Văn V đến toà án làm việc theo đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh V không có mặt. Hội đồng xét xử đã mở phiên toà ngày 16/7/2019 nhưng do sự vắng mặt của anh V nên Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, tại phiên toà hôm nay mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng anh V vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

[2] Về hôn nhân: Chị Chu Thị T và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V1 ngày 24/4/2018 là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm thấy tiếng nói chung nên dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã nhau, hai vợ chồng sống ly thân hơn một năm. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh V. Bản thân anh V không có quan điểm, ý kiến gì. Hơn nữa qua xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: cuộc sống chung giữa vợ chồng chị T và anh V xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng mâu thuẫn, cách cư xử và lối sống khác nhau, hai vợ chồng lại ly thân hơn một năm. Nay chị T có đơn ly hôn, chính quyền địa phương có ý kiến: đề nghị Tòa căn cứ theo quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của các bên giải quyết cho chị T được ly hôn anh V.

Xét thấy cuộc sống giữa chị T và anh V mâu thuẫn từ lâu đã đến mức trầm trọng, sống ly thân, mục đích hôn nhân không đạt. Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình.

[3] Về con chung: Chị Chu Thị T xác nhận chưa có con chung, không đề nghị Tòa giải quyết; anh Nguyễn Văn V không có ý kiến và chính quyền địa phương cung cấp hai anh chị chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chu Thị T không đề nghị Tòa giải quyết, anh Nguyễn Văn V không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Chị T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sư; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Chị Chu Thị T được quyền ly hôn anh Nguyễn Văn V.

2. Về án phí: Chu Thị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009145 ngày 23 tháng 5 năm 2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


72
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2019/HNGĐ-ST ngày 02/08/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:46/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ứng Hòa - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về