Bản án 46/2018/HSST ngày 04/04/2018 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 46/2018/HSST NGÀY 04/04/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/HSST ngày 01/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2018/QĐXXST–HS ngày 21/3/2018 đối với bị cáo

Lê Ngọc V, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn XS, xã TXT, huyện CM, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc V1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1957; Vợ Nguyễn Thị P, sinh năm 1998; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Danh chỉ bản số 77 do Cong an huyện Chương Mỹ lập ngày 10/12/2017; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2017 đến ngày 08/02/2018; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

-  Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn H, sinh

ngày 15/9/2001; Nơi cư trú: Thôn ĐT, xã LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt). Người giám hộ theo pháp luật của anh Hoàng Văn H: Ông Nguyễn Văn D

- Bí thư Đoàn TNCS xã LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).

-  Người làm chứng:

Anh Lưu Đắc N, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn XL, xã TXT, huyện CM, TP. Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 04/12/2017, Lê Ngọc V đi một mình ra khu vực bến xe Mỹ Đình, TP. Hà Nội gặp một người nam giới không biết tên, địa chỉ, mua 03 ống nhựa (một màu hồng, một màu cam, một màu tím) có chứa ma túy tổng hợp dạng đá, với giá là 500.000 đồng. Khi về nhà V trích ra một ít trong mỗi ống để sử dụng trong một lần. Số còn lại trong ống V bịt kín cất trong người, mục đích bán lại để hưởng lợi nhuận. Đến khoảng 20 giờ 00 phút  ngày 07/12/2017, V đang ở chỗ thuê làm điểm kinh doanh cắt tóc gội đầu tại Thôn XS, xã TXT, huyện CM, TP. Hà Nội thì nhận được điện thoại của Hoàng Văn H (sinh ngày 15/9/2001, ở Thôn ĐT, xã LS, huyện LS, tỉnh Hòa Bình). Qua điện thoại, H hỏi mua của V 01 ống ma túy tổng hợp dạng đá với giá là 300.000 đồng. Sẵn có 03 ống ma túy, V đồng ý bán và hẹn H đến cửa hàng V thuê để giao dịch mua bán ma túy. Khoảng 10 phút sau, H đi một mình tới cửa hàng gặp V, như đã thỏa thuận H đưa cho V một tờ mệnh giá 500.000 đồng. V trả lại tiền thừa 200.000 đồng và đưa 01 ống nhựa màu hồng có chứa ma túy cho H. Khi H vừa nhận tiền và ma túy V đưa thì bị lực lượng Công an huyện CM phát hiện bắt quả tang. V đã bỏ chạy vào trong nhà vệ sinh của cửa hàng vứt 02 ống nhựa có chứa ma túy tổng hợp dạng đá vào toa lét trong nhà vệ sinh ở cửa hàng thuê nhưng lực lượng Công an đã kịp thời bắt giữ.

Vật chứng thu giữ:

- Thu trên tay Hoàng Văn H 01 (một) ống nhựa màu hồng, bịt kín hai đầu, kích thước (1x2)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp dạng đá.

- Thu giữ trong bồn cầu nhà vệ sinh ở cửa hàng nhà Lê Ngọc V 02 (hai) ống nhựa trong đó có 01(một) ống màu tím và 01(một) ống màu cam, đều bịt kín hai đầu, có kích thước (1x2)cm, bên trong cả hai ống nhựa có chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy tổng hợp dạng đá.

- 01 điện thoại di động Black Berry, vỏ màu đen, đã qua sử dụng (thu giữ của V)

- 01 điện thoại di động  Nokia 1280, vỏ màu đen, đã qua sử dụng (thu giữ của H).

- 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam đang lưu hành (thu từ V: 500.000 đồng và từ H: 200.000 đồng).

Tại kết luận giám định số 182/KLGĐ ngày 08/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hà Nội kết luận:

“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 ống nhựa màu hồng bịt kín hai đầu (thu giữ của Hoàng Văn H) là ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,137 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 ống nhựa bịt kín hai đầu (thu giữ trong nhà của Lê Ngọc V) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng trọng lượng 0,194 gam”.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKS  ngày 28/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM truy tố Lê Ngọc V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý ” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là Khoản 1 Điều 251 BLHS 2015; Điểm s Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015,  xử phạt Lê Ngọc V từ 24 đến 30 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì bên trong có chứa Methamphetamine; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Black Berry thu của V và 01 điện thoại di động Nokia 1280 thu của H; Đối với số tiền 500.000 đồng thu của V có 300.000 đồng là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước, đối với số tiền 200.000 đồng còn lại của V không liên quan đến tội phạm trả lại cho V, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Số tiền 200.000 đồng thu giữ của H không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người giám hộ, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong quá trình điều tra người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người giám hộ, người làm chứng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292, Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[2]Về nội dung

[2.1] Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 07/12/2017, tại cửa hàng do Lê Ngọc V thuê làm điểm kinh doanh cắt tóc gội đầu ở Thôn XS, xã TXT, huyện CM, TP. Hà Nội, V bán trái phép 01 ống nhựa màu hồng bên trong có chứa 0,137 gam ma túy tổng hợp loại Methamphetamine với giá 300.000 đồng cho Hoàng Văn H thì bị Công an huyện CM bắt quả tang. Hành vi của Lê Ngọc V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS 1999). Thời điểm bị cáo phạm tội trước khi BLHS 2015 có hiệu lực, Điều 251 Bộ luật hình sự 2015 quy định mức hình phạt không có gì khác so với Điều 194 BLHS 1999 nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 194 BLHS 1999 để xét xử bị cáo.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM  truy tố Lê Ngọc V theo Khoản 1 Điều 251 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những qui định nghiêm ngặt của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn địa phương. Bị cáo biết tác hại của ma túy, việc mua bán bị nghiêm cấm song để có tiền phục vụ cho việc nghiện hút của bản thân, bị cáo đã mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời.Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo từ bỏ ma túy và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người bán ma túy cho V, Cơ quan điều tra không xác định được nên không đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với Hoàng Văn H có hành vi mua trái phép chất ma túy để sử dụng, hành vi của H chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 01/02/2018 Công an huyện CM đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với H theo Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ–CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ là có căn cứ.

[2.4]Về xử lý vật chứng:

- 02 phong bì niêm phong trong đó 01 phong bì có chữ ký của giám định viên Vũ Việt C và các đối tượng Lê Ngọc V, Hoàng Văn H; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Vũ Việt C và đối tượng Lê Ngọc V bên trong có chứa Methamphetamine cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động Black Berry V dùng để liên lạc mua bán ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

- 01 điện thoại di động Nokia 1280 H sử dụng để liên lạc mua ma túy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;

- Đối với 500.000 đồng là tiền thu giữ của V, có 300.000 đồng là tiền thu lời bất chính cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Số tiền 200.000 đồng là tiền của V không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho V tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của H không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho H.

[2.5]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"

2.Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, phạt: 

Lê Ngọc V 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/12/2017 đến ngày 08/02/2018.

3.Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong trong đó 01 phong bì có chữ ký của giám định viên Vũ Việt C và Lê Ngọc V, Hoàng Văn H; 01 phong bì niêm phong có chữ ký của giám định viên Vũ Việt C và Lê Ngọc V (bên trong đều chứa Methamphetamine);

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 300.000 đồng thu giữ của V; 01 điện thoại di động Black Berry màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Ngọc V; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Hoàng Văn H;

- Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lê Ngọc V để đảm bảo thi hành án;

- Trả lại Hoàng Văn H số tiền 200.000 đồng;

(Toàn bộ số vật chứng và số tiền trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện CM  theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/03/2018 và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949  của Chi cục thi hành án dân sự huyện CM tại Kho bạc Nhà nước huyện CM ngày 28/02/2018).

4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người giám hộ theo pháp luật vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


105
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về