Bản án 46/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 46/2017/HSST NGÀY 27/09/2017 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã ĐH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên toà lưu động xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2017/TLST- HS, ngày 08 tháng 9 năm 2017; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Văn T, sinh năm 1987, tại Tp. Hà Nội; trú tại: Đội 10, thôn ĐT, xã Lt, huyện MĐ, Tp. Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không ổn định; con ông Dư Văn KH, sinh năm 1959 và con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; vợ là Nguyễn Thị Nh và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012 con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2017 đến ngày 27/6/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

Người bị hại: Cháu  Nguyễn Thị Q, sinh ngày 20/3/2004 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Trú tại: Bản ĐT, xã TH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Người giám hộ cho người bị hại Nguyễn Thị Q: Anh Nguyễn Sỹ Q- Cha đẻ; Trú tại: Bản ĐT, xã TH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác;

Người làm chứng:

1.Anh Trương Văn Tr. Vắng mặt.

Trú tại: Tổ dân phố 5, thị trấn ĐM, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông.

2. Anh  Đặng Đình v; Trú tại: Bản ĐT, xã TH, huyện Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/6/2017, anh Trương Văn Tr và Dư Văn T đi bán bột thông đường ống vệ sinh tại xã TH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 21/6/2017, khi đến thôn 3 xã TH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thì Truyền đi vào nhà anh để giới thiệu bán sản phẩm, còn Dư Văn T đi vào nhà anh Nguyễn Sỹ Q để bán sản phẩm, khi T vào nhà anh Q không có vợ chồng anh Q ở nhà mà có cháu Nguyến Thị Q, sinh năm 2004 là con gái anh Q đanh cầm điện thoại chơi game, T giới thiệu sản phẩm rồi đưa cho cháu Q 06 gói bột thông đường ống vệ sinh, cháu Q nói là không có tiền, lúc này TR cũng vừa đến nhà anh Q, TR nói không có tiền thì đưa lại 06 gói bột và nói cháu Q có mua thì gọi bố mẹ về đưa tiền thì mới bán, xong Truyền đi sang nhà khác bán hàng tiếp. Cháu Q để chiếc điện thoại loại Sam Sung Galaxy J7 trên bàn uống nước nhà trên rồi chạy xuống nhà bếp lấy điện thoại khác để gọi bố mẹ. Lúc này tại nhà của anh Q chỉ còn một mình T đang đợi cháu Q để cháu Q hỏi bố mẹ cháu Q có mua bột thông ống vệ sinh hay không, T nhìn thấy chiếc điện thoại của cháu Q để trên bàn nhà trên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại. T nhanh chống lén lút, bí mật đi vào nhà anh Q lấy chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy J7 dấu vào trong người rồi đi ra gọi TR quay lại chở mình. TR quay lại chở T, sau đó cả hai chạy về nhà trọ tại thị trấn Đắk Mil. Cùng thời điểm cháu Q nghe thấy tiếng xe máy nổ thì chạy lên nhà trên, nhìn trên bàn thấy chiếc điện thoại bị mất. Cháu Q gọi điện thoại báo cho bố mình là anh Q biết việc bị người lạ vào nhà bán hàng rồi lấy trộm điện thoại, anh Q có gọi điện thoại nhờ một số người quen chặn hai người lạ mặt có đặc điểm đã nêu nhưng không có kết quả, sau đó anh Q trình báo công an. Sau khi TR chở T về nhà trọ Đức Thịnh tại ĐM nghỉ ăn cơm, T không nói cho TR biết là mình đã trộm chiếc điện thoại khi đi bán tại xã Thuận Hà. Đến chiều cùng ngày TR và T chuyển chỗ trọ đến nhà nghỉ Lê Vi tại tổ dân phố 15 thị trấn ĐM, Khi nhận được đơn trình báo của anh Q Cơ quan Công an tiến hành truy tìm, đến kiểm tra nơi ở của T và TR thì phát hiện chiếc điện thoại Sam Sung Galaxy J7 màu vàng của cháu Q được cất dấu trong phòng vệ sinh. Tại đây Dư Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình trước đó. Cơ quan Cảnh sát điều tra (Cơ quan CSĐT) Công an huyện Đ đã bắt khẩn cấp và quyết định tạm giữ hình sự đối với Dư Văn T về hành vi phạm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự (BLHS)

Ngày 22/06/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định trưng cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Đ định giá, xác định giá trị thiệt hại của chiếc điện thoại Sam Sung galaxy J7 mà T đã chiếm đoạt.

Tại bản kết luận định giá trong tố tụng hình sự ngày 26/06/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: Giá trị thiệt hại tính thành tiền của chiếc điện thoại Sam Sung galaxy J7 màu vàng mà T đã chiếm đoạt có giá trị là 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngày 27/6/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Dư Văn T về tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 52/CTr-VKS ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Dư Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dư Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 bộ luật hình sự. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 của BLHS xử phạt bị cáo Dư Văn T từ 06 đến 09 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS, đề nghị chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại 01 điện thoại Sam Sung galaxy J7 cháu Nguyễn Thị Q là chủ sở hữu hợp pháp.

Đề nghị chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại 01 chiếc xe hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biểm kiểm soát 29y1 27372 cho anh Trương Văn Tr là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Thị Q, và người giám hộ của cháu  Q, anh Nguyễn Sỹ Q có đơn không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi của Trương Văn Tr dùng xe máy của mình chở T đi bán bột thông ống vệ sinh và chở T về huyện ĐM sau khi T chiếm đoạt tài sản. Qua trình điều tra xác định việc T chiếm đoạt chiếc điện thoại trên anh  TR không biết, nên không đặt ra vấn đề xử lý.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo người bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]   Bị cáo Dư Văn T là người có đầy đủ nhận thức để biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại vào khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 21/6/2017, tại nhà chị Nguyễn Thị Q ở bản ĐT, xã TH, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Bị cáo T đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Sam Sung J7 trị giá 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) rồi mang về phòng trọ tại huyện ĐM cất dấu. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Dư Văn T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của BLHS.

Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 BLHS năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị  xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.

2. ……………..”

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người khác , làm mất trật tự an ninh tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dâ n. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động, muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của gia đình người bị hại để lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, bị cáo phải chiụ trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng,  bị cáo nhất thời phạm tội giá trị tài sản không lớn đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại người giám hộ cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p, g khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. Vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo HĐXX sẽ cân nhắc xem xét về hành vi trên của bị cáo.

[5] Xét đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa hôm nay đề nghị Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản  Điều 46, Điều 33 của Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Dư Văn T từ 06 đến 9 tháng tù. HĐXX xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là cao so với hành vi phạm tội của bị cáo vì bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ nêu trên. HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 47 của BLHS xử bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, hiện nay bị cáo đã bị tạm giam 03(ba) tháng 06(sáu) ngày nên cần áp dụng khoản 5 Điều 227 BLTTHS trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại 01 chiếc điện thoại cho cháu Nguyễn Thị Q là chủ sở hữu hợp pháp theo khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS, Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại 01 chiếc xe hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biểm kiểm soát 29y1 27372 cho anh Trương Văn Tr là chủ sở hữu hợp pháp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Cháu Nguyễn Thị Q có đơn không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người bị hại, người giám hộ của bị hại có quyền kháng cáo bản án, theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dư Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p, g khoản 1, khoản 2 Điều 46;  Điều 47; BLHS; khoản 5 Điều 227 BLTTHS.

Xử phạt bị cáo Dư Văn T 03(ba) tháng 06(sáu) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt khẩn cấp đưa vào tạm giữ, tạm giam ngày 21/6/2017 đến ngày 27/9/2017. (bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù). Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 41 Bộ luật hình sự 1999; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự;  Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại chiếc điện thoại Sam Sung J7 cho cháu Nguyễn Thị Q là chủ sở hữu hợp pháp.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã trả lại 01 chiếc xe hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen biểm kiểm soát 29y1 27372 cho anh Trương Văn Tr là chủ sở hữu hợp pháp.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí: Áp dụng Điều 98, Điều 99 BLTTHS, Điều 23, Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2017 về phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Dư Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người giám họ cho người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 46/2017/HSST ngày 27/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:46/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Nông - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về