Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 27/08/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 45/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/08/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 388/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2019 về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị B, sinh năm 1968. Có mặt.

ĐKTT: Số 169 ấp Phú Đ, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre

Nơi cư trú: Số 442 X, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

ĐKTT: Số 71/1 ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Huỳnh Thị B trình bày:

Chị và anh C quen biết nhau và cưới nhau vào năm 1989 hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 09/10/1996. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc và có với nhau được hai con chung nhưng sau đó đến năm 1997 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã mặc dù hai bên đã hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Chị và anh C đã ly thân từ tháng 02/1998 cho đến nay. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh C nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Quá trình hôn nhân anh chị có hai con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 01/4/1990 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 15/01/1994, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Chị B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Hội đồng xét xử cho chị được ly hôn với anh C. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung và nợ chung không có.

Tại biên bản làm việc ngày 06/8/2019 bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Anh cũng thừa nhận về thời gian cũng như điều kiện kết hôn như chị B trình bày là hoàn toàn đúng. Sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 1997 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cự cãi. Anh và chị B đã ly thân từ cuối tháng 02/1998 cho đến nay. Nay chị B yêu cầu ly hôn với anh, anh cũng đồng ý ly hôn nhưng do anh bận công việc làm thuê nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Về con chung: Anh cũng thống nhất quá trình hôn nhân anh chị có hai con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 01/4/1990 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 15/01/1994, đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Đng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị B đối với anh Nguyễn Văn C, cho chị B và anh C được ly hôn. Về con chung: Đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết. Án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Chị Huỳnh Thị B có đơn khởi kiện xin ly hôn đối với anh Nguyễn Văn C cư trú tại số 71/1 ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Xét thấy, đây là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn C có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị B và anh C cưới nhau vào năm 1989 trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 09/10/1996 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị B và anh C chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn nên chị B đã nộp đơn xin ly hôn với anh C.

Hi đồng xét xử thấy rằng: Cuộc sống hôn nhân của chị B và anh C thực tế là có mâu thuẫn nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cự cãi và hai bên cũng đã ly thân từ tháng 02/1998 cho đến nay. Xét thấy, trong khoảng thời gian chị B và anh C ly thân cũng là khoảng thời gian để anh chị hàn gắn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên, anh chị vẫn không hàn gắn được mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, hiện tại hai bên đã sống ly thân và không còn quan tâm gì nhau. Tại phiên tòa, chị B xác định không còn tình cảm với anh C và kiên quyết xin ly hôn với anh C. Tại biên bản làm việc ngày 06/8/2019 anh C cũng xác định hôn nhân giữa anh chị là có mâu thuẫn và không thể hàn gắn lại được nên đối với yêu cầu ly hôn của chị B, anh C cũng đồng ý nhưng do anh bận đi làm nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt anh.

Từ những căn cứ trên Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị B và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Quá trình hôn nhân chị B và anh C có hai con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 01/4/1990 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 15/01/1994, đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của chị B được chấp nhận nên chị B phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, 147, 228, 262, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Ba với ông Nguyễn Văn C. Cho chị Huỳnh Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Văn C.

[2] Về con chung: Có hai con chung tên Nguyễn Văn P, sinh ngày 01/4/1990 và Nguyễn Thị Kim P, sinh ngày 15/01/1994, đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên đều khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Huỳnh Thị B phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004590 ngày 13 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Chị B đã nộp đủ án phí.

Chị Huỳnh Thị Ba được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


37
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/HNGĐ-ST ngày 27/08/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:45/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về