Bản án 45/2019/DSST ngày 26/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BN ÁN 45/2019/DSST NGÀY 26/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VAY TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 141/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự; Quyết định hoãn phiên Tòa số: 62/2019/QĐST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2019.

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Tổ 1, phường Chi Lăng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Bùi KHánh Ch, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Hẻm 58 đường Đ, phường H, TP P, tỉnh G. Nay thay đổi địa chỉ mới:

đường Lý Chính Thắng, tổ 4, phường Chi Lăng, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

3. Người làm chứng: Bà Lê Thị Thanh Thủy, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 26 đường Tr, phường H, TP P, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2019, bản tự khai và tại phiên tòa bà Lê Thị Ngọc T trình bày:

Do có quen biết là bạn làm ăn với nhau nên vào ngày 06/01/2015 bà Lê Thị Ngọc T có cho bà Bùi KHánh Chvay với số tiền 150.000.000 đồng, hẹn 01 tháng sẽ trả nợ. Khi nhận tiền bà CH có viết “Giấy mượn tiền” và bà CH ký nhận vào mục “ Người mượn ”, đề ngày 06/01/2015 chứng cứ này bà Th đã cung cấp cho Tòa.

Đến hạn trả nợ bà Th đã đòi nhiều lần nhưng bà CH không trả mà cứ khất lần, sau đó lại có những lời nói thách thức.

Nay bà Th yêu cầu bà CH phải trả số tiền nợ là 150.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Đối với bị đơn bà Bùi Khánh Ch, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bà CH theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà CH không đến Toà làm việc nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án cũng như lời khai tại phiên Tòa.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai: Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bà Lê Thị Ngọc T yêu cầu bà Bùi KHánh Ch phải trả số tiền nợ là 150.000.000 đồng, bà Th đã cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp nên yêu cầu khởi kiện của bà Th là có cơ sở đề nghị chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí, nguyên đơn được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Tòa án sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” với bà Bùi KHánh Ch là bị đơn có địa chỉ: Khu tập thể xây lắp, hẻm 58 Phạm Văn Đồng, tổ 2, phường Hoa Lư, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Nay thay đổi địa chỉ mới: đường Lý Chính Thắng, tổ 3, phường Chi Lăng, TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Bị đơn là bà Bùi KHánh Chđã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn là bà Lê Thị Ngọc T yêu cầu bà Bùi KHánh Chphải trả nợ với số tiền là 150.000.000 đồng. Xét thấy hợp đồng dân sự vay tài sản có kỳ hạn giữa bà Th với bà CH được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm pháp luật về hình thức và nội dung nên có giá trị và được pháp luật bảo vệ bà Th đã cung cấp 01 chứng cứ là “Giấy mượn tiền” đề ngày 06/01/2015 bà CH mượn của bà Th số tiền 150.000.000 đồng, dưới mục “người cho mượn”có chữ ký và chữ viết “Lê Thị Ngọc T” ở mục “Người mượn” có chữ ký và chữ viết “Bùi Khánh Ch”.Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo trình tự giải quyết vụ án dân sự, nhưng bà CH không đến Tòa để trình bày ý kiến, điều này thể hiện bà CH đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Nên xét thấy yêu khởi kiện của bà Th là có căn cứ, được chấp nhận.

[3] Về lãi suất không yêu cầu nên không xem xét

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của bà Th được chấp nhận nên bà CH phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. bà Th được trả lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng: Điều 274; Điều 275; Điều 280; Điều 398; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 470 và Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc T.

- Buộc bà Bùi KHánh Chphải trả cho bà Lê Thị Ngọc T số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng).

- Buộc bà Bùi KHánh Chphải chịu 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Trả lại cho bà Lê Thị Ngọc T số tiền 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001332 ngày 16/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2019/DSST ngày 26/09/2019 về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

Số hiệu:45/2019/DSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về