Bản án 45/2018/HNGĐ-ST ngày 15/03/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 45/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/03/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 26/2018/TLST-HNGĐ ngày 05/01/2018 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 26/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2018/QĐ-HPT ngày 08/02/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị Huế Tr, sinh năm 1990, có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1985, có mặt.

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 05/01/2018 và tại phiên Tòa, nguyên đơn bà Hà Thị Huế Tr trình bày tóm tắt như sau:

Bà và ông Phạm Văn T là vợ chồng, sống với nhau năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Ông T không lo làm ăn và không quan tâm đến vợ con. Ông T ăn nhậu về nhà chửi mắn, ghen tuông vô cớ, bà đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông T vẫn không thay đổi tính tình. Bà và ông T đã ly thân nhau từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn và cũng không thể hàn gắn nên bà xin ly hôn với ông Phạm Văn T.

Con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung tên Phạm Huy H, sinh ngày 15/4/2009, hiện nay đang sống với bà nếu như ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chungvà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà Hà Thị Huế Tr trình bày, tài sản chung bà và ông T chung sống với nhau không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn T trình bày: Ông xác nhận lời trình bày của bà Hà Thị Huế Tr về thời gian, điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung như bà Tr trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn với những chuyện nhỏ trong gia đình, ông không có ghen tuông, có lúc ông đi uống rượu về có la mắn vợ con và đập bể đồ trong gia đình, giữa ông và bà Tr không có ly thân hiện nay vẫn còn sống chung nhà.

Nay bà Tr yêu cầu xin ly hôn ông không đồng ý, xin hàn gắn lại tình cảm vợ chồng để cùng lo cho con chung.

Con chung: Vợ chồng chung sống có 01 con chung Phạm Huy H, sinh ngày 15/4/2009. Nếu như ly hôn ông đồng ý đê con cho bà Tr tiếp tục nuôi đưỡng về phần ông không có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Ông và bà Tr sống chung không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên Toà, trên cơ sở trình bày của các đương sự, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Quan hệ pháp luật, bà Hà Thị Huế Tr yêu cầu xin được ly hôn với ông Phạm Văn T, xét thấy đây là vụ án hôn nhân và gia đình, thẩm quyền căn cứ vào Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Tr và ông T cưới nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 11/5/2009 (số 66/2009, quyển số 01/2009) nên quan hệ hôn nhân của bà Tr và ông T được pháp luật thừa nhận là hợp pháp từ thời điểm đăng ký kết hôn.

[3] Bà Tr cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc do ông T không quan tâm chăm sóc vợ con nên mới ly hôn, đối với ông T thừa nhận giữa ông và bà Tr có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ và ông không đồng ý ly hôn với bà Tr. Xét thấy về mâu thuẫn tình cảm của bà Tr và ông T, ông T cũng đã thừa nhận giữa ông và bà Tr có mâu thuẫn ngoài ra bà Tr cho rằng giữa bà và ông T đã ly thân nhau từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay, đối với ông T, ông không thừa nhận việc ly thân giữa ông và bà Tr, ông cho rằng ông và bà Tr hiện tại đang sống chung nhà vẫn sinh hoạt vợ chồng bình thường, lời trình bày của các bên về thời gian ly thân chưa được phù hợp nhau nhưng không có chứng cứ nào để chứng minh là bà Tr và ông T ly thân với nhau từ tháng 02/2017 cho đến nay. Hiện nay ông bà đang sống chung nhà.

Nhưng theo hồ sơ vụ án cũng nhưng sự thừa nhận của ông T trước Tòa, vào năm 2017 bà Tr đã có đơn xin ly hôn với ông T một lần vụ án đã được Tòa án thụ lý giải quyết, sau đó bà Tr cho ông T cơ hội để sữa sai bà Tr rút đơn, cụ thể là tại Quyết định Đình chỉ của Tòa án số327/2017, ngày 28 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã đình chỉ giải quyết vụ án ly hôn giữa bà Tr và ông T, nay bà Tr lại tiếp tục yêu cầu được ly hôn với ông T.

Xét thấy, qua hai lần bà Tr ly hôn với ông T. Điều này, chứng tỏ rằng quan hệ hôn nhân giữa hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận theo yêu cầu xin ly hôn của bà Tr đối với ông Phạm Văn T.

Đối với ông T, ông xin được đoàn tụ không muốn ly hôn nhưng ông T không đưa ra biện pháp đoàn tụ cùng với bà Tr để hàn gắn tình cảm vợ chồng mặc dù bà Tr đã cho ông rất nhiều cơ hội cũng như tại tòa ông không một lời xin lỗi bà Tr để được bà Trâm chấp nhận bỏ qua mâu thuẩn giữa bà và ông T. Mặt khác, tại tòa bà Tr vẫn cương quyết xin được ly hôn với ông T. Nên việc yêu cầu đoàn tụ của ông T chưa đủ để thiết phục và bà Tr vẫn cương quyết yêu cầu xin ly hôn nên Hội đồng xét xử không thể chấp nhận theo yêu cầu xin được đoàn tụ của ông T.

[4] Về quyền nuôi con chung: Nếu như ly hôn ông T cũng chấp nhận để cháu Phạm huy H, sinh ngày 15/4/2009 cho bà Tr nuôi dưỡng và ông không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, điều này cũng đồng nghĩa với việc yêu cầu của bà Tr được tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Huy H tại biên bản tự khai của cháu. Sau khi ly hôn bà Tr được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Phạm huy H sinh ngày 15/4/2009 ông T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Tài sản chung: Bà Hà Thị Huế Tr và ông Phạm Văn T thống nhất xác định tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Đối với nợ chung: Bà Tr và ông T xác định ông bà không có nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Về án phí:

Bà Hà Thị Huế Tr phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 85 và Điều 86 Luật hôn nhân gia đình; Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về hôn nhân: Bà Hà Thị Huế Tr được ly hôn với ông Phạm Văn T.

Về quyền nuôi con chung: Bà Hà Thị Huế Tr được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Phạm Huy H, sinh ngày 15/4/2009. Ông Phạm Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, khi cần thiết có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Bà Hà Thị Huế Tr phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002064 ngày 05/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An để thi hành.

Án sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


100
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2018/HNGĐ-ST ngày 15/03/2018 về ly hôn

Số hiệu:45/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về