Bản án 45/2018/DS-ST ngày 09/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 45/2018/DS-ST NGÀY 09/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 09 tháng 11 năm 2018 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 99/2 0 1 8 /TLST-D S ngày 20 tháng 4 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2018/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV (viết tắt VPB);

Địa chỉ trụ sở: Số XX LH, phường LH, quận Đ, thành phố Hà Nội;

Địa chỉ liên hệ: Tầng T - số TTT đường P, phường H, quận N, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Ngô Chí D, Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật.

Người đại diện hợp pháp cho ông Ngô Chí D: Ông Đỗ Thành T, Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH quản lý tài sản Ngân hàng TMCP VNTV kiêm Giám đốc khối Pháp chế và Kiểm soát tuân thủ là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 11/2018/UQ-HĐQT ngày 02/3/2018).

Người đại diện hợp pháp của ông Đỗ Thành T: Ông Phạm Văn D, sinh ngày 21/4/1990, chức vụ: Chuyên viên tố tụng - VPB AMC;

Địa chỉ liên hệ: Tầng T - số TTT đường P, phường H, quận N, thành phố Hồ ChíMinh là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 14755/2018/UQ-VPB ngày 28/6/2018), có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1992; cư trú tại: Tổ O, ấp T, xã TB, huyện B, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 4 năm 2018 của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV (viết tắt VPB) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Phạm Văn D trình bày:

Ngày 13/01/2015 Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV (gọi tắt VPB) - chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh và anh Nguyễn Tuấn A có ký kết hợp đồng tín dụng số 2595966 số tiền vay 70.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng, hình thức vay là mở tài khoản và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử ký kết vào ngày 24/12/2014. Kể từ ngày vay anh Tuấn A đã thanh toán cho VPBANK được số tiền 18.506.574 đồng, trong đó gồm nợ gốc là 8.729.541 đồng và nợ lãi là 9.777.033 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Tuấn Anh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Mặc dù phía VPB đã nhiều lần gửi thông báo, liên hệ làm việc trực tiếp và tạo điều kiện cho anh Tuấn A thanh toán nhưng anh Tuấn Anh vẫn né tránh nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng VPB khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Tuấn A thanh toán toàn bộ một lần nợ gốc và lãi theo hợp đồng đã ký cụ thể thể như sau:

Nợ gốc theo hợp đồng tín dụng số 2595966 là 61.270.459 (sáu mươi mốt triệu, hai trăm bảy mươi nghìn, bốn trăm năm mươi chín) đồng;

Nợ lãi tính đến ngày 09/11/2018 theo hợp đồng tín dụng số 2595966 là 96.047.452 (chín mươi sáu triệu, không trăm bốn mươi bảy nghìn, bốn trăm năm mươi hai) đồng.

Tổng cộng anh Nguyễn Tuấn A phải thanh toán cho Ngân hàng VPB số tiền 157.317.911 (một trăm năm mươi bảy triệu, ba trăm mươi bảy nghìn, chín trăm mười một) đồng và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Do anh Tuấn A đã vi phạm các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng nên Ngân hàng VPB yêu cầu anh Tuấn A thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và nợ lãi sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập bị đơn anh Nguyễn Tuấn A hợp lệ nhưng anh Tuấn A vẫn cố tình giấu địa chỉ cụ thể của mình, do đó Tòa án không tiến hành làm việc được với anh Tuấn A. Anh Tuấn A phải chịu mọi hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Phạm Văn D vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn anh Nguyễn Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không lý do.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

+ Về nội dung vụ án: Xét thấy hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên là hợp đồng vay có lãi và thời hạn, khi ký kết hợp đồng các bên đã tuân thủ đúng quy định của luật tổ chức tín dụng do đó hợp đồng đã phát sinh quyền và nghĩa vụ, tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Tuấn A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn là có căn cứ, đủ cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPB buộc anh Nguyễn Tuấn A có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và nợ lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Tuấn A.

[2] Thời hiệu khởi kiện: Do các giao dịch về tài sản phát sinh vào ngày 13/01/2015 đến ngày 03/4/2018 Ngân hàng VPB khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Tuấn A hoàn trả số tiền nợ gốc và nợ lãi nên căn cứ vào Điều 184 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 688 Bộ luật Dân sự xác định thời hiệu vẫn còn.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quá trình thu thập chứng cứ thể hiện anh Nguyễn Tuấn A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ O, ấp T, xã TB, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp hợp đồng tín dụng được ký kết với anh Nguyễn Tuấn A thể hiện bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tổ O, ấp T, xã TB, huyện B, tỉnh Tây Ninh; tạm trú tại: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trong thời gian ký hợp đồng tín dụng số 2595966 thì anh Nguyễn Tuấn A đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn GD; địa chỉ: đường số Q, khu công nghiệp L, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ cho Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai nơi anh Nguyễn Tuấn A đang sinh sống và làm việc, tuy nhiên quá trình thu thập chứng cứ thể hiện anh Tuấn A hiện đã không còn đăng ký tạm trú tại Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Nai và đã nghỉ việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn GD từ ngày 29/9/2016 nên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xác định nơi cư trú cuối cùng của anh Tuấn Anh tại tổ O, ấp T, xã TB, huyện B, tỉnh Tây Ninh do đó vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

[4] Về nội dung vụ án: Xét hợp đồng tín dụng số 2595966 được ký vào ngày 24/12/2014 giữa Ngân hàng VPBANK và anh Nguyễn Tuấn A thể hiện anh Tuấn A có vay của Ngân hàng VPB số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng, hình thức vay là mở tài khoản và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử, mục đích vay là để sửa chữa nhà. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh Tuấn A đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng VPB khởi kiện yêu cầu anh Tuấn A hoàn trả số tiền gốc và nợ lãi quá hạn theo hợp đồng đã ký kết là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Ngân hàng VPB có chức năng hoạt động tín dụng, đồng thời hợp đồng thỏa thuận cấp thẻ tín dụng số 2595966 được ký vào ngày 24/12/2014 là thể hiện các bên tự nguyện thỏa thuận về nợ gốc, nợ lãi quá hạn là không trái với pháp luật và đạo đức xã hội do đó nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền nợ gốc là 61.270.459 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 09/11/2018 là 96.047.452 đồng là có cơ sở chấp nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Tuấn A, tiến hành kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Tuấn A vẫn vắng mặt không lý do nên anh Tuấn A phải chịu mọi hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại Điều 91, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng VPB được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Buộc anh Nguyễn Tuấn A phải chịu 7.866.000 (bảy triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (làm tròn) theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 373 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Buộc anh Nguyễn Tuấn A có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV tổng cộng số tiền 157.318.000 (một trăm năm mươi bảy triệu, ba trăm mười tám nghìn) đồng (làm tròn), trong đó gồm: Tiền nợ gốc là 61.270.459 đồng và tiền lãi là 96.047.452 đồng.

Kể từ ngày 10/11/2018, anh Nguyễn Tuấn A còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 2595966 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

2. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Tuấn A phải chịu 7.866.000 (bảy triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm (làm tròn).

Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần VNTV 3.511.000 (ba triệu, năm trăm mười một nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005191 ngày 20/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


73
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 45/2018/DS-ST ngày 09/11/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:45/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Biên - Tây Ninh
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:09/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về