Bản án 449/2017/HSPT ngày 21/08/2017 về tội giết người

 TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 449/2017/HSPT NGÀY 21/08/2017 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 21 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 638/2016/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2016 đối với bị cáo Nguyễn Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 316/2016/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Phước T; giới tính: nam; sinh năm 1974 tại tỉnh Bình T; Nơi đăng ký thường trú: Thôn 6, xã Gia A, huyện Tánh L, tỉnh Bình T; Nơi cư trú: Nhà trọ không số, Tổ 5, Khu phố 5, phường Đông Hưng T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không có); Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: thu gom rác; Con ông Nguyễn Đ và bà Lương Thị L; Hoàn cảnh gia đình: Vợ tên Nguyễn Thị N, sinh năm 1973, có 3 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2000;

Tiền án, tiền sự: không có; Bắt, tạm giam: 13/02/2016; (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu: Luật sư Trần Văn H - Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

- Bị hại: Anh Ngô Hoàng V (đã chết); sinh năm 1977; nơi đăng ký thường trú trước khi chết: thôn Lương Nông B, xã Đức T, huyện Mộ Đ, tỉnh Quảng Ngãi;

(Trong vụ án, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan người làm chứng không kháng cáo nên Tòa không triệu tập)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước T và Ngô Hoàng V cùng làm nghề thu gom rác dân lập tại khu vực phường Đông Hưng T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. T và vợ con thuê ở trọ tại nhà trọ không số, Tổ 5, Khu phố 5, phường Đông Hưng T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 19 giờ ngày 12/02/2016, T cùng anh Đinh Văn H và một vài người bạn tổ chức uống bia tại phòng trọ của anh H (bên cạnh phòng trọ của T). Khoảng 22 giờ cùng ngày thì mọi người ra về, chỉ còn anh H và T. Một lúc sau thì anh Ngô Hoàng V cùng bạn là anh Phan Văn K đến phòng trọ của anh H chơi. T rủ anh H, anh V và anh K chơi đánh bạc dưới hình thức đánh bài “tiến lên” ăn tiền. Tất cả đồng ý và thỏa thuận: người thua chót sẽ phải chung cho người về nhất 40.000đ, còn người về thứ 3 sẽ phải chung cho người về nhì 20.000đ. Chơi được vài ván thì giữa T và anh V xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau về việc T cho H “hưởng xái”. T đứng dậy định bỏ về thì bị anh V dẫm lên chân, đồng thời dùng tay đánh bốn, năm cái vào đầu T. Sau đó, sự việc được mọi người can ngăn. T tức giận chạy đến xe ba gác (dùng để vận chuyển rác) để trước cửa phòng trọ của mình, lấy 1 con dao Thái Lan dài khoảng 22cm, lưỡi sắc nhọn, cầm trên tay phải, chạy sang phòng trọ của anh H. Nhìn thấy T cầm dao chạy sang, chị Ngô Thị Hoàng T1, là vợ của H la lớn cho mọi người biết. Lúc này, anh V đang đứng gần cửa phòng trọ của anh H, quay lưng ra phía ngoài, khi nghe chị T1 la, anh V quay người lại thì bị T dùng dao đâm một nhát từ trên xuống trúng vào ngực trái. T rút dao ra bỏ chạy về phòng trọ của mình. Anh V được mọi người đưa đến tại Bệnh viện Thống Nhất cấp cứu. Đến ngày 13/02/2016, anh V chết do vết thương đâm thủng phổi trái. Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 12 ra lệnh bắt khẩn cấp đối với T.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 234-16/KLGĐ-PY ngày 30/5/2016 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Ngô Hoàng V chết do sốc mất máu không hồi phục bởi vết thương đâm thủng phổitrái; không tìm thấy thành phần cồn trong máu; máu của Ngô Hoàng V thuộc nhóm máu O.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 316/2016/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2016 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T tù chung thân;

Thời hạn tù tính từ 13/02/2016;

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/9/2016 bị cáo Nguyễn Phước T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt .

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Phước T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã nhận định và tuyên xử, nhưng bị cáo cho rằng mức án tù chung thân mà Tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nặng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Giết người’ theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Xét mức hình phạt tù chung thân mà án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo T không xuất trình tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Giết người” với tình tiết định khung hình phạt điểm n (có tính chất côn đồ) khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự là chưa chính xác, vì theo bị cáo và một số người làm chứng thì người bị hại đã đánh bị cáo trước. Do vậy có cơ sở xác định người bị hại cũng có một phần lỗi, tình tiết này chưa được Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm xem xét. Ngoài ra luật sư phân tích thêm một số tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời bào chữa của luật sư đã được đại diện Viện kiểm sát đối đáp.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phúc thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ, đủ cơ sở xác định:

Giữa bị cáo Nguyễn Phước T và anh Ngô Hoàng V có mâu thuẫn, cự cãi nhau từ việc chơi đánh bài, đã được mọi người can ngăn. Nhưng do bị cáo vẫn còn bực tức anh V nên bị cáo T đến xe ba gác để trước phòng trọ của mình lấy một con dao Thái Lan đang để trên xe, cầm dao bằng tay phải và chạy sang phòng anh H tìm anh V lúc này anh V đang đứng gần cửa phòng trọ của anh H, trong tư thế quay lưng ra phía ngoài, khi nghe tiếng la của chị T1, anh V quay người lại thì bị T dùng dao đâm một nhát từ trên xuống trúng vào ngực trái. T rút dao ra chạy về phòng trọ, còn anh V được mọi người đưa đi cấp cứu. Đến ngày 13/02/2016 thì tử vong do vết thương đâm thủng phổi trái.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, thể hiện tính côn đồ, hung hãn xem thương tính mạng, tài sản của người khác đồng thời còn xâm phạm trật tự trị an tại địa phương, gây đau thương mất mát cho gia đình người bị hại không gì bù đắp được. Do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật hình sự và mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết khắc phục hậu quả cho bị cáo, cấp phúc thẩm xem xét áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Tuy có thêm tình tiết giảm nhẹ là khắc phục hậu quả nhưng Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt tù chung thân về tội “Giết người” mà Tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ không nặng, nên quyết định không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo.

[4] Bị cáo Nguyễn Phước T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 316/2016/HSST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phước T tù chung thân về tội “Giết người. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2016.

Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo Thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Phước T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm số 316/2016/HSST ngày 30/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


99
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 449/2017/HSPT ngày 21/08/2017 về tội giết người

    Số hiệu:449/2017/HSPT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:21/08/2017
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về