Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/10/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 28 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2019 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11/10/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lăng Thị M, sinh năm 1986- vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT: Xóm 3/2, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1981- vắng mặt;

Nơi cư trú: Xóm 3/2, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và Bản tự khai nguyên đơn chị Lăng Thị M trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn B tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 08/11/2005 tại UBND xã T, huyện Q. Thời gian đầu vợ chồng chung sống tình cảm B thường. Đến đầu năm 2008 vợ chồng đi miền Nam làm ăn và phát sinh nhiều mâu thuẫn. Anh B thường xuyên rượu chè, cờ bạc và đánh đập chị. Do không thể chịu đựng nổi cuộc sống chung với anh B nên chị chuyển đi nơi khác ở, vợ chồng sống ly thân nhau từ năm 2008 đến nay.

Nay chị xét thấy không còn tình chồng vợ, cuộc hôn nhân này không thể tồn tại, nên yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Q giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Chị và anh B có 01 con chung, tên là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 28/6/2006. Hiện nay cháu P đang ở với anh B và ông bà nội. Ly hôn, chị đồng ý giao con chung cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, vì chị đang làm việc ở xa.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn B vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập đến trụ sở Tòa án để tham gia giải quyết vụ án, nhưng anh B đều vắng mặt, không có ý kiến bằng văn bản, không có lời khai gửi Tòa án.

Kết quả xác minh tại UBND xã T: Chị Lăng Thị M và anh Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn vào ngày 08/11/2005 tại UBND xã T, huyện Q. Hiện tại anh B có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại địa P. Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh B và chị M thì không ai khai báo nên UBND xã T không nắm rõ. Nay chị M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị M và anh B có 01 con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 28/6/2006. Hiện nay cháu P đang ở với anh B. Nay chị M yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, việc giao con cho ai nuôi thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân theo pháp luật tố tụng. Nguyên đơn chấp hành pháp luật theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng, không đến Tòa án gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử cho chị Lăng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 28/6/2006 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lăng Thị M, do anh Nguyễn Văn B chưa yêu cầu.

Chị Lăng Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Anh Nguyễn Văn B vắng mặt chưa có yêu cầu, nên miễn xét.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn B có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại xóm 3/2, xã T, huyện Q. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Q. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh B đều vắng mặt, không hợp tác; qua 02 lần tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, anh B vẫn vắng mặt không có lý do. Như vậy bị đơn đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình tại Tòa án Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lăng Thị M và anh Nguyễn Văn B là hợp pháp vì tuân thủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

Quá trình chung sống do anh B có biểu hiện làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình nên hai bên đã sống ly thân nhau và chấm dứt mọi quan hệ từ năm 2008 đến nay. Nay chị M kiên quyết ly hôn; anh B không có thiện chí gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng; thể hiện qua việc Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh B vẫn cố tình vắng mặt; chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Lăng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

[2] Về con chung: Chị M và anh B có 01 con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 28/6/2006.

Xét thấy, cháu P có nguyện vọng được ở với bố và thực tế anh B đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của chị M là giao con chung Nguyễn Thị Mai P cho anh B tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Tm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lăng Thị M, do anh Nguyễn Văn B chưa yêu cầu.

Chị Lăng Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung: Chị Lăng Thị M không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét; anh B vắng mặt chưa có yêu cầu, nên miễn xét; khi nào có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn chị Lăng Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân gia đình; các Điều 147, 227, 228, 238 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Lăng Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Mai P, sinh ngày 28/6/2006 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Tm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị Lăng Thị M, do anh Nguyễn Văn B không yêu cầu.

Chị Lăng Thị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Lăng Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2018/ 0004325 ngày 13/5/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


13
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 28/10/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về