Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 27/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nga Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXX-ST, ngày 21 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 11 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - Sinh năm: 1992

Địa chỉ: Xóm 7, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

2. Bị đơn: Anh Mai Ngọc T - Sinh năm: 1989

Địa chỉ: Xóm 7, xã Nga T, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Phiên tòa có mặt chị L, vắng mặt anh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 14/5/2019 và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh T kết hôn với nhau vào ngày 01/8/2014, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được UBND xã Nga T cấp đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, xảy ra nhiều mâu thuẫn, cải vã. Chị cố gắng níu kéo hạnh phúc chung, nhưng tình cảm vợ chồng đã rạn nứt nên không thể duy trì được. Từ tháng 9/2017 chị và anh T sống ly thân, không ai còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa. Xét thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục duy trì, chị L đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh T theo quy định.

Về con: vợ chồng có 01 con chung là Mai Ngọc Cát T, sinh ngày 04/11/2015, hiện tại cháu đang sinh sống cùng chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu T, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, mức cấp dưỡng chị đề nghị 5.000.000đ/ tháng cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với bị đơn anh Mai Ngọc T, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Anh T cố tình vắng mặt nên không có lời khai trong hồ sơ vụ án.

Vụ án có liên quan đến người chưa thành niên, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS).

Tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh T vắng mặt nên việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chỉ tiến hành đối với nguyên đơn, đồng thời Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy,Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Mặc dù anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh T theo quy định của pháp luật; về con chị đề nghị được nuôi cháu T và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, mức cấp dưỡng là 3.000.000 (Ba triệu đồng)/tháng; về tài sản chị không yêu cầu giải quyết. Đối với bị đơn anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai, vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nhng người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Mai Ngọc T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống theo chị L trình bày: sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã, hạnh phúc gia đình bị rạn nứt, không thể hàn gắn được. Từ tháng 9/2017 đến nay vợ chồng sống ly thân, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn anh T theo quy định. Đối với anh T mặc dù biết chị L yêu cầu ly hôn nhưng anh cố tình vắng mặt, không thể hiện quan điểm. Chứng tỏ anh T không có thiện chí để níu kéo tình cảm vợ chồng trở về đoàn tụ. Xét cuộc sống chung của chị L và anh T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể duy trì được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị L, cho chị L ly hôn anh T là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về con: Vợ chồng có 01 con chung là Mai Ngọc Cát T, sinh ngày 04/11/2015, hiện tại cháu đang sinh sống cùng chị. Sau ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu T và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, mức cấp dưỡng là 3.000.000 (Ba triệu đồng)/tháng.

Xét đề nghị xin được nuôi con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung của chị L là chính đáng. Do cháu T còn nhỏ, để đảm bảo quyền lợi cũng như sự chăm sóc cháu, nên giao cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu là phù hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị L với mức cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 (Ba triệu đồng)/tháng là cao. Bởi lẽ, anh T cũng là lao động tự do. Chị L trình bày mức thu nhập của anh Tuân là 20.000.000đ/tháng, nhưng chị Lành không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh về mức thu nhập của anh T. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của cháu T, buộc anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, mức cấp dưỡng mỗi tháng 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn đồng) là hoàn toàn phù hợp thực tế.

[3] Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) theo quy định.

Anh Mai Ngọc T phải chịu án phí DSST về nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận đơn của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn anh Mai Ngọc T.

2. Về con: Giao cháu Mai Ngọc Cát T, sinh ngày 04/11/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Mai Ngọc T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng là 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 10/2019 cho đến khi cháu T trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí DSST về việc ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2017/0005082 ngày 20/5/2019 của Chi cục THADS huyện Nga Sơn, chị L đã nộp đủ án phí DSST.

Anh Mai Ngọc T phải chịu án phí DSST về nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự

Bản án này là sơ thẩm. Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 27/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nga Sơn - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 27/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về