Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về yêu cầu ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/04/2019 VỀ YÊU CẦU LY HÔN

Ngày 16 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 590/2018/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018, về việc: “ Yêu cầu ly hôn ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày: 05/3/2019, quyết định hoãn phiên toà số: 29/2019/QĐST-HNGĐ ngày: 20/3/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Trần Thị Ái V, sinh năm: 1958 – ( Có mặt ).

HKTT: tổ 3, ấp 4, xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Nguyễn Khắc Đ, sinh năm: 1960 – ( Vắng mặt ).

HKTT: tổ 3, ấp 4, xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2018, bản khai ngày 09/01/2019, biên bản ghi nhận ý kiến của đương sự ngày 31/01/2019 tại Tòa án, và tại phiên toà, nguyên đơn bà Trần Thị Ái V trình bày: bà V kết hôn với ông Đ vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã BR, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, có tổ chức lễ cưới, gia đình hai bên đều biết và đồng ý. Việc kết hôn của ông bà là hoàn toàn tự nguyện không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn ông bà sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ sa vào rượu chè, không lo làm ăn. Mặc dù bà V đã góp ý nhiều lần nhưng ông Đ không tiếp thu để sửa chữa mà tình trạng đó cứ kéo dài. Vì vậy, từ đó cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm thực không còn nên bà V yêu cầu ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: không có.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay bà V vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ, con chung: không có. Tài sản chung và nợ chung: không có.

Ông Nguyễn Khắc Đ dù đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay ông Đ vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ái V đối với ông Nguyễn Khắc Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng, việc chấp hành pháp luật và hướng giải yêu cầu của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: bà Trần Thị Ái V khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà V ly hôn với ông Nguyễn Khắc Đ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Ông Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng ông Đ.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa bà V và ông Đ là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, gia đình hai bên đều đồng ý, trước lúc kết hôn có tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 01 ) nên là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ theo bà V trình bày là: do ông Đ sa vào rượu chè, không lo làm ăn. Mặc dù bà V đã góp ý nhiều lần nhưng ông Đ không tiếp thu để sửa chữa mà tình trạng đó cứ kéo dài. Vì vậy, từ đó cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Điều này cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương ( Bút lục số: 27 ). Điều đó thể hiện: giữa ông Đ và bà V không còn yêu thương, tôn trọng, chia sẻ lẫn nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà V yêu cầu ly hôn là có căn cứ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà V, về hôn nhân bà V được ly hôn với ông Đ.

[3] Về con chung: không có.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: mặc dù bà V trình bày không có, nhưng ông Đ không có mặt nên không kiểm chứng được lời trình bày của bà V có đúng hay không. Vì vậy, HĐXX không xem xét, nếu sau này hai bên có tranh chấp về vấn đề này thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác theo quy định.

[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên bà V phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3, Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Ái V đối với ông Nguyễn Khắc Đ.

[1] Về hôn nhân: bà Trần Thị Ái V được ly hôn với ông Nguyễn Khắc Đ.

[2] Về con chung: không có.

[3] Về án phí: bà V phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà bà V đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0004773 ngày 06/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. Bà V đã nộp đủ án phí.

[4] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Riêng ông Đ thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


50
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 về yêu cầu ly hôn

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về