Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 09/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 09 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2019/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 1994.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V - Sinh năm 1994.

Cùng HKTT: Phường C, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam X, xã C, huyện X, tỉnh Hà Tĩnh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 6 năm 2015, tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên thường xuyên về gây sự đánh đập chị. Từ tháng 11 năm 2016 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Tháng 5 năm 2017, anh V vi phạm pháp luật và bị xét xử 48 tháng tù về tội cướp tài sản. Hiện nay, anh V đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam X. Nay chị H xác định tình cảm giữa chị và anh V không còn nên đề nghị Toà án nhân dân thành phố H cho Chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn V.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn V có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 26/6/2016. Hiện nay cháu đang ở với chị. Nguyện vọng của Chị khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Ph và không yêu cầu anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Văn V trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H kết hôn ngày 08 tháng 6 năm 2015, là hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường R, thành phố H. Tình cảm vợ chồng hòa thuận được khoảng một năm rưỡi thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống. Khi xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng có cãi vã nhưng không đánh đập gì. Hiện nay mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh cũng đồng ý.

- Về con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 26/6/2016. Hiện nay cháu Ph đang ở với chị H. Vì anh đang đi chấp hành hình phạt tù nên không có điều kiện nuôi con, anh đề nghị giao cháu Ph cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản, công nợ: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V là đúng quy định.

Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Ph cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn V có hộ khẩu thường trú trên địa bàn thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thành phố H thụ lý, xét xử vụ án là đúng quy định.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa, anh V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt vì lý do đang phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam. Chị H đề nghị Toà án tiến hành xét xử vụ án, nên Toà án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt anh V là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V kết hôn năm 2015, trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên hay xảy ra cãi vã lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân, anh V vi phạm pháp luật nên phải đi chấp hành hình phạt tù. Anh V cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị H.

Theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chung xây cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây anh V và chị H không còn tình cảm, trách nhiệm với nhau. Hiện tại anh V đi chấp hành hình phạt tù nên cũng không có điều kiện để cải thiện cuộc sống vợ chồng. Do đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên chị H cho anh V thêm cơ hội, chờ anh V đi chấp hành hình phạt tù về, vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chị H vẫn cương quyết xin được ly hôn anh V, mặt khác anh V cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh V không thể hàn gắn được nữa. Do đó nếu buộc anh, chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng không thể cải thiện được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V là phù hợp pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V thống nhất có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 26/6/2016. Nguyện vọng của chị H khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Ph và không yêu cầu anh V phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Ph đang còn nhỏ cần có sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, hiện nay chị H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu, anh V đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện chăm sóc con cái, anh V cũng đồng ý giao cháu Ph cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Do đó chấp nhận yêu cầu của chị H về việc được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào: Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn V.

Về con chung: Công nhận chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Ph, sinh ngày 26/6/2016. Giao cháu Nguyễn Hoàng Ph cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số AA/2017/0006439 ngày 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa. (Chị H đã nộp đủ án phí).

Về quyền kháng cáo: Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


31
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 09/08/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 09/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về