Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 04/04/2019 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 04 háng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 18/2019/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019, về việc xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1984.                        (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Tô Đắc M - sinh năm 1983.                         (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Số 114/12, đường A, khóm 4, phường 4, thành phố C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh Tô Đắc M đăng ký kết hôn vào năm 2008, tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Hiện chị T và anh M đã ly thân hơn 03 tháng. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị T và anh M có 01 người con chung tên Tô Minh Thái B, sinh ngày 25/10/2013. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị T xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị T xác định không có.

Bị đơn anh Tô Đắc M được Tòa án tống đạt các thông báo, văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh M vắng mặt, không tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Bị đơn anh Tô Đắc M vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[2] Chị T và anh Tô Đắc M đăng ký kết hôn vào năm 2008, tại Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hiện chị T và anh M đã ly thân hơn 03 tháng. Nhận thấy cuộc sống chung của anh M và chị T không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn với anh M.

[3] Chị T và anh M có 01 người con chung tên Tô Minh Thái B, sinh ngày 25/10/2013. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Anh M không có ý kiến. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp nên được chấp nhận. Cần giao cháu Tô Minh Thái B cho chị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

[4] Chị T xác định vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh M cũng không có yêu cầu về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Chị T xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung. Do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều: 51, 56, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T, cho chị  Nguyễn Thị T ly hôn với anh Tô Đắc M.

Về con chung: Giao cháu Tô Minh Thái B, sinh ngày 25/10/2013 cho chị Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Anh Tô Đắc M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 07/01/2019, chị T có nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001922, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b  và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 04/04/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:04/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về