Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 16/06/2017 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 44/2017/HNGĐ-ST NGÀY 16/06/2017 VỀ LY HÔN

Ngày 16 tháng 6 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2017/TLST - HNGĐ ngày 06/3/2017 về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2017/QĐXX- ST ngày 18/5/2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Thái Văn Đ

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Trương Thị L

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 21/02/2017 và bản tự khai ngày 21/3/2017 của nguyên đơn Thái Văn Đ trình bày giữa anh và chị Trương Thị L đã đăng ký kết hôn ngày 09/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu hai vợ chồng sống hạnh phúc thương yêu nhau để xây dựng gia đình và đã có với nhau một người con chung. Thời gian chung sống sau đó hai vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, anh và chị L đã sống ly thân, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy anh Đ làm đơn ly hôn xin toà án giải quyết việc ly hôn cho anh.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 01 đứa con chung là Thái Thị Cẩm L – sinh ngày 21/4/2013. Sau khi ly hôn nguyện vọng của anh Đ là mong muốn được nuôi dưỡng cháu L.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không có Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của anh Đ. Tiến hành triệu tập lấy lời khai, triệu tập và thông báo phiên hòa giải nhiều lần nhưng chỉ có mặt anh Đ còn chị L vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Anh Thái Văn Đ và chị Trương Thị L đã đăng ký kết hôn ngày 09/9/2013 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Quảng Bình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị không thông cảm cho nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy nguyện vọng của anh Đông xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Khoản 1, Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Thái Văn Đ được ly hôn với chị Trương Thị L.

Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Thái Thị Cẩm L – sinh ngày 21/4/2013. Xử buộc chị Trương Thị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con một tháng là 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không có nên miễn xét.

Án phí: Anh Thái Văn Đ phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Đ đã nộp là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000207 ngày 06/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh Đ đã nộp đủ án phí.

Chị Trương Thị L phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Thái Văn Đ được ly hôn với chị Trương Thị L.

2. Về con chung: Xử giao anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Thái Thị Cẩm L – sinh ngày 21/4/2013. Xử buộc chị Trương Thị L đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con một tháng là 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Anh Thái Văn Đ phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh Đ đã nộp là 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000207 ngày 06/3/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa. Anh Đ đã nộp đủ án phí.

Chị Trương Thị L phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏathuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị  cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 16/6/2017), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


53
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 44/2017/HNGĐ-ST ngày 16/06/2017 về ly hôn

Số hiệu:44/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/06/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về