Bản án 43/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về ly hôn giữa chị T và anh Đ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 43/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ LY HÔN GIỮA CHỊ T VÀ ANH Đ

Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 77/2019/TLST-HNGĐ ngày 03/05/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐST-HNGĐ ngày 19/06/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị T Sinh năm: 1992 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Trần Quốc Đ Sinh năm: 1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2019 được bổ sung tại bản tự khai ngày 10/05/2019, nguyên đơn chị Trần Thị Tâm trình bày: Chị và anh Trần Quốc Đ kết hôn vào ngày 29/12/2011, quá trình tìm hiểu tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc không có hạnh phúc. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự hòa hợp về tính cách, bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2015 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Toà án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Quốc Đoàn.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là Trần Hồng N sinh ngày 16/10/2012; Hiện con chung đang ở cùng chị. Nay ly hôn chị đề nghị được nuôi con và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản; công nợ chung: vợ chồng không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Trần Quốc Đ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh Đ không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại phiên tòa hôm nay, anh Đ vắng mặt.

Tại biên bản xác minh ngày 08/05/2019 với Ủy ban nhân dân xã N về nguyên nhân phát sinh tranh chấp như sau: Do các đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án không hòa giải tại cơ sở nên không nắm được nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Về quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết trên cơ sở bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung: Căn cứ Điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Quốc Đ. Về con chung: Gia con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Chị T phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Quốc Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Chị Trần Thị T và anh Trần Quốc Đ kết hôn vào ngày 29 tháng 12 năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Vì vậy, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[3] Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống vợ chồng không có sự hòa hợp về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân hơn ba năm. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng đã thực sự đổ vỡ không có khả năng hàn gắn, đoàn tụ và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ. Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa chị T và anh Đ, nếu có duy trì thì mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị T đối với anh Trần Quốc Đ.

[4] Về con chung: Vợ chồng anh chị 01 con chung là Trần Hồng N sinh ngày 16/10/2012; Hiện con chung đang ở cùng chị T. Sau khi, xem xét ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử thấy để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung nên tiếp tục giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trần Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Nếu sau này, anh Đ có yêu cầu giải quyết về tài sản, công nợ chung sẽ được giải quyết sau bằng vụ án khác.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị T phải nộp án phí ly hôn theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, anh Trần Quốc Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1.Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Trần Quốc Đ.

2.Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao chị Trần Thị T trực tiếp nuôi cháu Trần Hồng Ngân sinh ngày 16/10/2012. Chấp nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Đ có quyền thăm nom con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này.

3.Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nam Trực theo biên lai thu số 0002238 ngày 03/5/2019. 4.Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Trần Quốc Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


41
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2019/HNGĐ-ST ngày 23/07/2019 về ly hôn giữa chị T và anh Đ

Số hiệu:43/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về