Bản án 41/2017/HNGĐ-ST ngày 05/12/2017 về ly hôn giữa anh L, chị H

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 41/2017/HNGĐ-ST NGÀY 05/12/2017 VỀ LY HÔN GIỮA ANH L, CHỊ H

Ngày 05 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 31/2017/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2017 về việc Xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Cà Văn L; Có mặt.

Trú tại: Bản N, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: Chị Lò Thị Hương; Vắng mặt.

Trú tại: Bản N, xã C, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La; Địa chỉ: Số 11, đường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt C - Cán bộ tín dụng (Theo giấy ủy quyền số 459/UQ-TD ngày 04 tháng 12 năm 2017); Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn anh Cà Văn L trình bày:

Về tình cảm: Anh L và chị Lò Thị H kết hôn từ ngày 26/04/2014, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không ai bị ép buộc. Quá trình chung sống được một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là vợ tôi là chị H không tu chí làm ăn và có tình cảm với người khác. Anh L và chị H đã sống ly thân từ ngày 27/8/2017 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa, chị H không quan tâm đến gia đình và con cái. Đến nay, anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, anh L có nguyện vọng xin ly hôn chị Lò Thị H.

Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là cháu Cà Thị Ánh T – sinh ngày 25/5/2011 và cháu Cà Tấn Đ – sinh ngày 04/01/2014. Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai cháu T và cháu Đ. Anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Về tài sản riêng: Anh L cam đoan vợ chồng không có tài sản chung, tài sản riêng.

Về nợ chung: Anh L và chị H có 01 khoản nợ chung. Nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La số tiền 30.000.000,đ (Ba mươi triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016; Mã KH: 7901-287128188 và Phụ lục hợp đồng; Mục đích vay: Đầu tư mua Bò dê, phân bón. Ngày 25/12/2016, anh L đã trả số tiền gốc là 5.000.000,đ (năm triệu đồng). Hiện nay, anh L và chị H còn nợ của Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La số tiền gốc là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Anh L cam đoan sẽ chịu trách nhiệm thanh toán khoản nợ chung này với Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đã giao thông báo thụ lý vụ án số 31/TB-TLVA ngày 19/10/2017 và giấy triệu tập viết bản tự khai cho ông Lò Văn K (bố đẻ của chị Lò Thị H), ông K cam đoan sẽ giao lại cho chị H, nhưng chị Lò Thị H không có mặt theo triệu tập của Tòa án, không khai về tình cảm, con chung, tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ chung.

Tại bản tự khai, biên bản xác minh người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La trình bày:

Anh Cà Văn L và chị Lò Thị H hiện có quan hệ vay vốn với Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La theo Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016; Mã KH: 7901-287128188 và Phụ lục hợp đồng; Mục đích vay: Đầu tư mua Bò dê, phân bón. Giải ngân ngày 06/5/2016 với số tiền là 30.000.000,đ (ba mươi triệu đồng). Ngày 25/12/2016, anh L và chị H đã trả số tiền gốc là 5.000.000,đ (năm triệu đồng). Dư nợ gốc tính đến ngày 25/10/2017 là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo hợp đồng.

Trường hợp anh L và chị H ly hôn, Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La nhất trí với đề nghị của anh Cà Văn L, anh L có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016 là trả toàn bộ số nợ vay cho Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Cà Văn L vẫn giữ nguyên quan điểm của mình là xin được ly hôn với chị Lò Thị H; Về con chung: xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu Cà Thị Ánh T – sinh ngày 25/5/2011 và cháu Cà Tấn Đ – sinh ngày 04/01/2014, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có; Về nợ chung: anh L sẽ có trách nhiệm thanh toán khoản nợ chung với Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La số tiền gốc là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La giữ nguyên quan điểm, đề nghị anh Cà Văn L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện theo Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016 đã ký kết là trả toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng.

Bị đơn chị Lò Thị H vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do, không có yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về kiểm sát việc tuân theo pháp luật: Việc thụ lý, giải quyết của thẩm phán và quá trình xét xử của Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng.

Đề xuất hướng giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về tình cảm: Xử cho anh Cà Văn L được ly hôn chị Lò Thị H.

Về con chung: Giao cháu Cà Thị Ánh T – sinh ngày 25/5/2011 và cháu Cà Tấn Đ – sinh ngày 04/01/2014 cho anh Cà Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Lò Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Về tài sản riêng: không có.

Về nợ chung: Anh Cà Văn L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016 đã ký kết với Agribank – Chi nhánh thành phố Sơn La; Dư nợ gốc tính đến ngày 25/10/2017 là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Các đương sự phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên. Tòa án nhận định như sau:

[1] Về Tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La đã triệu tập chị Lò Thị H đến để ghi ý kiến, tiến hành hòa giải giữa anh L và chị H nhưng chị H vắng mặt không có lý do, nên Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn chị Lò Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần đến tham gia phiên tòa nhưng chị H vẫn không có mặt theo triệu tập của Tòa án. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Lò Thị H.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Cà Văn L và chị Lò Thị H kết hôn từ ngày 26/04/2014, có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, không ai bị ép buộc nên quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra xích mích, cãi vã. Anh L chăm chỉ làm ăn, thu nhập ổn định; Chị H không tu chí làm ăn, thường xuyên bỏ nhà đi, không quan tâm, không có trách nhiệm với gia đình và con cái. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình tiến hành hòa giải nhưng không khắc phục được. Anh L và chị H đã sống ly thân từ tháng 8/2017.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, thẩm phán, hội đồng xét xử đã phân tích khuyên giải hướng cho anh L suy nghĩ rút yêu cầu xin ly hôn để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh L vẫn kiên quyết xin được ly hôn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh L và chị H trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh Cà Văn L được ly hôn chị Lò Thị H, căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Anh Cà Văn L và chị Lò Thị H có 02 con chung là cháu Cà Thị Ánh T – sinh ngày 25/5/2011 và cháu Cà Tấn Đ – sinh ngày 04/01/2014. Hiện nay đang được anh L chăm sóc và nuôi dưỡng. Anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu T và cháu Đ.

Xét từ thời điểm ly thân, anh L là người chăm sóc, giáo dục và có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu T và cháu Đ. Trong quá trình chung sống, anh L cũng là người chăm chỉ làm ăn, nuôi dạy con cái, cho con học tập; chị H thường xuyên không ở nhà, không quan tâm và không đóng góp về kinh tế, tình cảm để nuôi dưỡng con cái, do đó cần chấp nhận đề nghị xin nuôi con chung của anh L, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Anh L không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung; Về tài sản riêng: Căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án và anh L cam đoan không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Anh Cà Văn L và chị Lò Thị H có 01 khoản nợ chung. Nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La số tiền 30.000.000,đ (ba mươi triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016; Mã KH: 7901- 287128188 và Phụ lục hợp đồng; Mục đích vay: Đầu tư mua Bò dê, phân bón. Ngày 25/12/2016, anh L và chị H đã trả số tiền gốc là 5.000.000,đ (năm triệu đồng). Dư nợ gốc tính đến ngày 25/10/2017 là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng.

Anh Cà Văn L nhận trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ với Agribank - Chi nhánh thành phố Sơn La. Tại Bản tự khai ngày 26/10/2017, Biên bản xác minh vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 25/10/2017 và tại phiên tòa, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La nhất trí để anh L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016, thanh toán số tiền vay nợ với Ngân hàng. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của anh L về nợ chung, căn cứ Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sư dung an phi va lê phi Toa an.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 57, 60, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 4 Điều 7 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyêt sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hôi quy đinh vê mưc thu , miên, giảm, thu, nôp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Cà Văn L được ly hôn chị Lò Thị H.

2. Về con chung: Giao hai con chung là cháu Cà Thị Ánh T – sinh ngày 25/5/2011 và cháu Cà Tấn Đ – sinh ngày 04/01/2014 cho anh Cà Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi cháu T và cháu Đ trưởng thành (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Chị Lò Thị H không phai câp dương nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về nợ chung: Anh Cà Văn L có trách nhiệm tiếp tục thực hiện Hợp đồng tín dụng số N01.05.2016/HĐTD ngày 06/5/2016; Mã KH: 7901- 287128188 là thanh toán khoản vay nợ với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) – Chi nhánh thành phố Sơn La; Dư nợ tính gốc đến ngày 25/10/2017 là 25.000.000,đ (hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi theo thỏa thuận tại hợp đồng.

4. Về án phí:

Anh Cà Văn L phải chịu 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000321 ngày 19 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai./.


88
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 41/2017/HNGĐ-ST ngày 05/12/2017 về ly hôn giữa anh L, chị H

Số hiệu:41/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Sơn La - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/12/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về