Bản án 43/2018/HNGĐ-ST ngày 26/06/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 43/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/06/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 26 háng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 39/2018/TLST-HNGĐ ngày 08/02/2018 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2018/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T - Sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường L, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1987

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện,quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 87 ngày 23/12/2016. Qúa trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nên thường xuyên cải vả xúc phạm nhau. Ông H thường xuyên uống rượu bia rồi về nhà gây sự đánh đập bà. Bà và gia đình đã khuyên giải nhưng ông H không sửa đổi. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên từ tháng 12 năm 2017 đến nay vợ chồng bà không sống chung với nhau. Nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, khả năng hàn gắn không còn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là: Nguyễn Hùng A - Sinh ngày 03/8/2017. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hùng A, không yêu cầu ông Hcấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của bà Ngô Thị T về quá trình kết hôn của ông và bà T. Qúa trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vả xúc phạm nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên từ tháng 12/2017 đến nay không sống chung với nhau, Hiện mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được nên nay ông cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông và bà T có 01 con chung là: Nguyễn Hùng A - Sinh ngày 03/8/2017. Hiện nay cháu Nguyễn Hùng A đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ông củng đồng ý để bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hùng A, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu chứng cứ nguyên đơn bà Ngô Thị T đã giao nộp: Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính); Giấy khai Nguyễn Hùng A (Bản sao); Giấy chứng minh nhân dân Ngô Thị T (Bản sao); Sổ hộ khẩu (Bản sao),

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Ngô Thị T có đơn xin xét xử vắng măt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Ngô Thị T.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Ngô Thị T yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết về ly hôn và nuôi con chung giữa bà và ông Nguyễn Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố C theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự .

[2]. Về nội dung vụ án:

Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn và được Uỷ ban nhân dân phường phường P, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số 121, quyển số 01/2011 ngày 01/11/2011 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì không tôn trọng, yêu thương, không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, sống với nhau không có hạnh phúc. Từ tháng 12 năm 2017 đến nay bà T và ông H mỗi người sống một nơi, mạnh ai nấy sống, mâu thuẫn vợ chồng không hàn gắn được. Tại phiên tòa, ông H cũng đồng ý ly hôn với bà T. Xét thấy tình trạng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu của bà Ngô Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn H là có căn cứ nên hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn H có 01 con chung là: Nguyễn Hùng A - Sinh ngày 03/8/2017. Bà T yêu cầu trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hùng A, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Xét: Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chung chưa thành niên cho ai nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm đảm bảo cho con phát triển tốt nhất cả về mặt thể chất và tinh thần. Cháu Nguyễn Hùng A hiện còn nhỏ, tại thời điểm xét xử cháu chưa đủ 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc chu đáo của người mẹ. Bà T hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hùng A và có đủ điều kiện nuôi con. Tại phiên tòa, ông H cũng đồng ý để bà T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hùng A. Do đó, yêu cầu của bà T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hùng A là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 81 Luật Hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

 [3]. Về án phí: Bà Ngô Thị T phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị T. Bà Ngô Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn H..

2. Về con chung: Bà Ngô Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hùng A - Sinh ngày 03/8/2017.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Ngô Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

* Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Văn H có quyền thăm nom con; không ai được cản trở ông Nguyễn Văn H thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Bà Ngô Thị T và ông Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Ngô Thị T phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà Ngô Thị T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0012161 ngày 07/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố C; bà Ngô Thị Tđã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Bà Ngô Thị T có quyền kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST ngày 26/06/2018 về ly hôn

Số hiệu:43/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về