Bản án 43/2017/HSST ngày 04/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 43/2017/HSST NGÀY 04/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 7 năm 2017, tại Nhà văn hóa cộng đồng phường Hùng Vương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 35/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2017, đối với bị cáo: A, sinh năm 1986, tại Quảng Ninh; ĐKHKTT và chỗ ở: Đường G, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; con ông B (đã chết) và bà Đ; có vợ là F, sinh năm 1987 (đã ly hôn năm 2011), có một con sinh năm 2006; tiền án - tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 04/4/2017, tạm giam từ ngày 07/4/2017; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo A bị Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 04/4/2017, A đi xe buýt từ nhà ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh sang khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng với mục đích mua ma tuý về sử dụng. Tại đây, A đã mua của người đàn ông khoảng 50 tuổi (không quen biết tên, tuổi, địa chỉ) một gói ma túy với giá là 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, A cất giấu số ma tuý đó vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi bộ ra đến khu vực ngã ba Xi măng thì bị lực lượng Cảnh sát Biển kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đưa về Công an phường Thượng Lý lập biên bản giải quyết.

Tại bản kết luận giám định số 563/PC54 (MT), ngày 04/4/2017, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Trọng lượng Heroine có trong 0,2633 gam chất bột là 0,1734 gam.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKS, ngày 29/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng phát biểu quan điểm giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Căn cứ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, Nghị quyết 144/2016/QH13, ngày 29/6/2016, của Quốc hội và Công văn số: 276/TANDTC-PC, ngày 13 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên phạt bị cáo với mức án từ 15 đến 18 tháng tù; tịch thu tiêu hủy 01phong bì thư chứa ma túy niêm phong sau giám định số: 563/PC54 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng và miễn phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Căn cứ chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên toà bị cáo A đã khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 04/4/2017, bị cáo đi xe buýt từ thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh sang khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng để mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Bị cáo đã gặp và mua của người đàn ông không quen biết một gói ma túy với số tiền là 200.000 đồng. Sau đó bị cáo cất số ma tuý đó vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi bộ ra đến ngã ba Xi măng thì bị lực lượng Cảnh sát Biển kiểm tra, phát hiện bắt quả tang đưa về Công an phường Thượng Lý lập biên bản giải quyết, như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng đã truy tố. Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bởi biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, được lập hồi 09 giờ 15 phút, ngày 04/4/2017 tại trụ sở Công an phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

Do nghiện ma tuý nên A đã mua, cất dấu một lượng ma tuý qua giám định là Heroin và có trọng lượng là 0,1734gam, nhằm mục đích để sử dụng thoả mãn cơn nghiện của bản thân. Do vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng truy tố đối với bị cáo A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Như vậy Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo A đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tuy nhiên, căn cứ khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13, ngày 29/6/2016, của Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì việc áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sẽ có lợi cho bị cáo khi xem xét và quyết định hình phạt.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.Mặt khác, gia đình bị cáo thuộc diện hộ gia đình người có công với cách mạng nên theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì đây là quy định có lợi cho người phạm tội, nên cần được xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Xét bị cáo là người không có việc làm và thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo là 01 phong bì thư chứa ma túy niêm phong sau giám định số: 563/PC54, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Xét đây là số ma túy mà bị cáo đã mua và tàng trữ trái phép, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo Thương, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Hồng Bàng tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo A phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 144/2016/QH13, ngày 29/6/2016, của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Xử phạt: A 18 (Mười tám) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, 04/4/2017.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu huỷ số ma túy (Heroin) còn lại sau khi giám định được chứa trong một phong bì thư có dấu niêm phong số: 563/PC54, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng. Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo A phải nộp 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


101
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về