Bản án 42/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 42/2020/HS-ST NGÀY 12/02/ 2020 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Văn C - sinh năm 1982. Nơi cư trú: xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: LĐTD; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn D và bà Ninh Thị V (đã mất); có vợ: Trần Thị N và 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 07/01/2013 bị Công an huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo nổ”; tạm giữ: ngày 22/10/2019, tạm giam: ngày 28/10/2019, “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22h00’ ngày 21/10/2019, tổ công tác phòng Cảnh sát cơ động PK02 Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Q, thành phố Thanh Hóa làm nhiệm vụ trên đường QL B đoạn đường gầm cầu vượt thuộc phường Q, thành phố T phát hiện bắt quả tang Trần Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ của C 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 11 gói nhỏ chứa các chất bột màu trắng. C khai đó là ma túy mua về để sử dụng.

Tại cơ quan điều tra C khai nhận: Do bản thân sử dụng ma túy, nên khoảng 21h30 ngày 21/10/2019 C đi đến khu vực đường D, phường Đ, thành phố T tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây C gặp và mua của một người đàn ông nhưng không biết tên và địa chỉ 11 gói ma túy với giá 1.100.000đ. Sau khi mua C đi về chỗ làm ở khu vực Cảng L đoạn gầm cầu vượt QL B thuộc phường Q thì bị Công an phát hiện, bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 2374/MT- PC09 ngày 28/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tỉnh Thanh hoá kết luận: chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,751g loại Hêrôin.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho C, do C không biết tên và địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 14 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 24 đến 27 tháng tù.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiền hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án thấy đủ cơ sở chứng minh: Vào khoảng 22h00 ngày 21/10/2019, tại khu vực QL B đoạn đường gầm cầu vượt phường Q, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Trần Văn C đã tàng trữ trái phép 11 gói ma túy có tổng khối lượng 0,751gam loại Hêrôin.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Trần Văn C có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Nhân thân và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Mặc dù bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Do bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi nên không cần phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy thu của bị cáo được niêm phong bằng phong bì thư là vật nhà nước cấm lưu hành, sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy. Căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự ; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trần Văn C 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành kể từ ngày 22/10/2019.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa có chữ ký chữ viết của Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Trịnh Thị Thu Hương.

Số ma túy trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 76/THA ngày 06/02/2020.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./


436
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 về tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:42/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về