Bản án 42/2019/HSST ngày 27/09/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 42/2019/HSST NGÀY 27/09/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Sáng ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2019/HSST ngày 09/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2019/QĐXXST-HS ngày 26/8/2019 đối với:

* Bị cáo Nguyễn Đình T, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2001, tại xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn 1, xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình C, sinh năm 1968 và con bà: Nguyễn Thị C, sinh năm 1968, hiện trú tại: Thôn 1, xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 23/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HSST. Do Bản án bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên ngày 24/5/2019, TAND tỉnh Hà Tĩnh xử bị cáo Nguyễn Đình T 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Bản án hình sự phúc thẩm số 56/2019/HSST; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 14/3/2019 đến ngày 20/03/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Đại diện gia đình người bị hại: Anh Trần Văn T, sinh năm 1994; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Thôn 7, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Ông Nguyễn Khánh T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Hà Tĩnh (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1968; nghề nghiệp: Làm ruộng (đồng thời là người đại diện hợp pháp cho bị cáo), có mặt.

- Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1968; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt).

Đều trú tại: Thôn 1, xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

- Anh Hoàng Bá H, sinh năm 1994; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Thôn 1, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Anh Võ Thế A, sinh năm 1984; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Tổ 9, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

- Anh Nguyễn Đại H, sinh năm 1972; nghề nghiệp: Lao động tư do; trú tại: Số 1/528/82 đường N, quận L, TP.Hà Nội (Vắng mặt).

- Anh Nguyễn T A, sinh năm 1979; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Số 382- H, thị trấn Yên V, huyện G, TP Hà Nội (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/3/2002 (Có mặt).

Trú tại: Thôn 1, xã Cẩm H, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

- Anh Võ Văn Nh, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Trú tại: Thôn 7, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

- Chị Võ Thị Th, sinh năm 1983 (Vắng mặt).

- Anh Trần Văn Th, sinh năm 1994 (Vắng mặt).

Đều trú tại: Thôn 7, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 24/02/2019, Nguyễn Đình T (sinh ngày 11/8/2001 (thường gọi là T C) và Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/3/2002, (thường gọi là T S) đang ngồi chơi điện tử tại quán Internet Bảo Linh ở tổ dân phố 9, thị trấn huyện C thì Tô Quang S đi xe mô tô đến gặp T (C) nói “Ra đây anh hỏi tý”, S nói với T (C) “Lên xe ta đi” nên T (C) ngồi lên xe mô tô S chở đi về phía cổng Chợ Hội ở thị trấn huyện C. Khi S chở T (C) đi qua quán cà phê Mộc phía trước cổng Chợ Hội, Hoàng Bá H thấy S nên gọi “Anh S ơi” thì S vòng xe lại dừng ngoài đường và nói với T (C) “Vào trong quán lấy xe ta đi” (Do trước đó S gọi điện thoại cho H để mượn xe mô tô), thấy T (C) đi bộ vào nên H chỉ tay về chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29K1-075… (Xe của Nguyễn Thế A, H mượn đi chơi) rồi nói “Xe đó lấy mà đi” nên T (C) đi lại chổ dựng xe mô tô, chìa khóa xe đã cắm sẵn, T điều khiển xe mô tô đi ra ngoài đường. Lúc này Tô Quang S điều khiển xe mô tô của mình đi trước còn T (C) điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 29K1-075...đi theo phía sau về nhà S, S lấy một chiếc túi ni lon màu đỏ, bên trong đựng chiếc áo khoác màu đen vo tròn lại và lấy điện thoại của mình ra, bấm mở nhật ký cuộc gọi lên chỉ cho T (C) một số điện thoại đang hiện ở trong nhật ký rồi đưa điện thoại cho T (C) và nói T (C) đưa chiếc túi ni lon vào ngã ba huyện K gọi điện thoại cho một người có số điện thoại trong máy rồi người này sẽ ra lấy chiếc túi ni lon đó và đưa lại cho T (C) một chai mật ong cùng với tiền Việt Nam đồng cầm về cho S, đồng thời S nói sau khi lấy được tiền thì T lấy đi 100.000đồng mà đổ xăng nên T (C) cầm lấy chiếc túi bóng đựng chiếc áo khoác màu đen đi ra treo vào chiếc móc bên trái sườn xe mô tô rồi đi lên quán Internet Bảo Linh rủ T (S) cùng đi vào huyện K.

Mặc dù, không có giấy phép lái xe nhưng Nguyễn Đình T, sinh ngày 11/8/2001 vẫn điều khiển xe mô tô chở T (S) đi theo đường Quốc lộ 1A, từ huyện Cvào huyện K. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, xe mô tô do Nguyễn Đình T điều khiển đi đến Km 539+600, đường Quốc lộ 1A, nơi có khoảng hở của dải phân cách cố định, có biển báo người đi bộ qua đường, có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ và có vạch giảm tốc độ, thuộc địa phận thôn 7, xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh thì phát hiện phía trước có một người đi bộ chéo từ phía bên trái qua bên phải đường. Mặc dù, phát hiện có người đi bộ qua đường, nhưng T không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn. Khi người đi bộ đi sang đến làn đường xe cơ giới số 2 bên phải (làn đường sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ bên phải, tính theo chiều xe mô tô chạy) thì xe mô tô do T điều khiển cũng vừa đi tới, T đánh lái sang bên phải để tránh nhưng không kịp, nên cánh ướm phía trước bên trái xe mô tô đã va vào người đi bộ, làm người đi bộ ngã xuống mặt đường, một phần cánh ướm bên trái xe bị vỡ, túi ni lon màu đỏ bên trong đựng chiếc áo khoác màu đen treo ở chiếc móc bên trái sườn xe mô tô bị rơi xuống mặt đường, xe mô tô không ngã mà bị loạng choạng lao về phía trước. Điểm va chạm giữa xe mô tô với người đi bộ ở trên làn đường xe cơ giới số 2 (làn đường sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ, tính theo chiều xe mô tô chạy). Hậu quả làm bà Võ Thị L, sinh năm 1961, trú quán tại thôn 7, xã Cẩm T, huyện C chết trên đường đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Sau khi gây tai nạn, Nguyễn Đình T, sinh ngày 11/8/2001 điều khiển xe bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm và che dấu hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 14/3/2019, biết sự việc bị phát hiện nên T đã đến Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ 01 túi ni lon màu đỏ bên trong đựng chiếc áo khoác màu đen, do anh Trần Văn T nhặt được tại hiện trường giao nộp. Qua kiểm tra phát hiện bên trong giữa hai lớp vải của chiếc áo có 02 gói ni lon bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng. Tại Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng thu giữ trong chiếc áo khoác màu đen tại hiện trường vụ tai nạn giao thông là Methamphetamine, tổng khối lượng 8,5753 gam.

Trong quá trình điều tra Nguyễn Đình T (sinh ngày 11/8/2001) khai nhận: Chiếc túi ni lon màu đỏ, bên trong đựng chiếc áo khoác màu đen có chứa hai gói ma túy đá nói trên là của Tô Quang S nhờ T đưa vào ngã ba huyện K giao cho một người không rõ họ tên, địa chỉ rồi lấy tiền đưa về giao lại cho S nhưng trên đường đi xẩy ra tai nạn nên chiếc túi ni lon bị rơi xuống mặt đường. T khai nhận không biết trong túi có ma túy và S cũng không nói với T bên trong có chứa ma túy. Do hiện nay Tô Quang S không có mặt tại địa phương, không biết rõ đang ở đâu nên chưa lấy được lời khai nên chưa có cơ sở xác định. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã khởi tố vụ án về tội Vận chuyển trái pháp chất ma túy và đã tách ra để tiếp tục điều tra.

* Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định Pháp Y xác định: Nạn nhân Võ Thị L, nguyên nhân chết được xác định do đa chấn thương, chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương cột sống cổ, chấn thương bụng kín.

* Kết quả định giá tài sản bị thiệt hại: Theo kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cẩm Xuyên xác định: Xe mô tô biển kiểm soát 29K1-075...bị hư hỏng, gây thiệt hại 460.000đồng.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Tại biên bản khám nghiện hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn lập hồi 21 giờ, ngày 24/02/2019 phản ánh: Vụ tai nạn xảy ra ở khoảng hở của giải phân cách cố định, tại Km 539+600, đường Quốc lộ 1A, thuộc địa phận xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, giữa xe mô tô biển kiểm soát 29K1-075...với người đi bộ qua đường. Mặt đường được rải nhựa bằng phẳng và chia thành hai phần đường, ở giữa có giải phân cách cứng cố định. Phần đường bên phải theo hướng xe chạy có tầm nhìn tốt, rộng 9,0m, được kẻ vạch phân cách thành ba làn đường, hai làn đường dành cho xe cơ giới, mỗi làn rộng 3,5m, làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ rộng 2,0m. Phần đường bên phải tính theo chiều xe mô tô 38F1-5290 chạy có 01 biển báo hiệu giảm tốc độ, 01 biển báo được phép quay đầu xe, 01 biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường, trên mặt đường có vạch giảm tốc độ và vạch kẻ đường dành cho người đi bộ qua đường. Lấy mép cuối cùng của vạch S chỉ dẫn người đi bộ qua đường phía Nam làm điểm mốc và lấy mép đường Quốc lộ 1A phía bên phải làm điểm chuẩn, tất cả đều tính theo hướng từ Bắc vào Nam, các dấu vết để lại hiện trường như sau:

- Đánh số thứ tự các dấu vết: (1) vết phanh; (2) là mãnh nhựa vỡ; (3) là mãnh nhựa vỡ; (4) là mãnh nhựa vỡ; (5) là dép của nạn nhân.

-Xác định mốc cố định: Lấy mép cuối cùng của vạch S dành cho người đi bộ qua đường về hướng Nam làm mốc và mép đường nhựa Quốc lộ 1A bên phải làm chuẩn (Tính theo hướng từ Bắc vào Nam).

- Mô tả dấu vết hiện trường: Trên phần đường bên phải theo chiều xe mô tô 29K1-075...chạy có hai vạch giảm tốc độ. Vạch thứ nhất cách biển báo được phép quay đầu xe 20,30m, có kích thước rộng 3,0m, dài 9,0m; Cách vạch giảm tốc độ thứ nhất về hướng nam 23,30m là vạch giảm tốc độ thứ hai có kích thước rộng 3,80m, dài 9,0m; Cách vạch giảm tốc độ thứ hai về hướng nam 15,60m là biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường; Cách biển báo chỉ dẫn người đi bộ qua đường về hướng nam 2,50m là vạch S dành cho người đi bộ qua đường thứ nhất có kích thước rộng 4,0m dài 9,0m; Cách vạch S dành cho người đi bộ qua đường thứ nhất về hướng nam 21m là vạch S dành cho người đi bộ qua đường thứ hai rộng 4,0m dài 9,0m; Khoảng hở của dãi phân cách có định rộng 29m. Cách vạch S dành cho người đi bộ qua đường thứ hai về hướng nam 10m là điểm đầu vết phanh (1) Điểm đầu vết phanh (1) nằm trên mặt đường nhựa của làn xe cơ giới số 2 (làn xe sát với làn xe thô sơ); Điểm đầu vết phanh (1) cách mép đường nhựa bên phải là 2,40m và kéo dài 5,20m; Điểm cuối vết phanh (1) nằm ở làn xe thô sơ và cách mép đường nhựa bên phải là 1,90m. Nằm ngay điểm cuối vết phanh là mảnh nhựa (2) vỡ rơi ở làn xe thô sơ; Tâm mãnh nhựa (2) vỡ cách mép đường nhựa bên phải là 1,90m. Từ tâm mảnh nhựa vỡ (2) đi về phía nam 3,70m là mảnh nhựa vỡ (3) nằm trên mặt đường của làn xe thô sơ; Tâm mảnh nhựa vỡ (3) cách mép đường bên phải là 1,10m. Từ tâm mảnh nhựa vỡ (3) đi về phía nam 5,50m là mảnh nhựa (4); Tâm mảnh nhựa (4) cách mép đường bên phải là 0,30m. Cách điểm đầu vết phanh (1) về phía nam 8,20m là dép (5) của nạn nhân; Tâm dép (5) nằm trên làn xe cơ giới thứ nhất và cách mép đường bên phải 8,8m.

* Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan: Tại biên bản khám xe mô tô biển kiểm soát: 29K1- 075...liên quan đến vụ tai nạn phản ánh:

- Mép ngoài lốp trước phía bên trái có vết chùi mất bụi còn mới;

- Cánh ướm phía bên trái bị vỡ bung ra khỏi vị trí ban đầu;

- Ốp bảo vệ thân xe bên trái bị vỡ bung rời khỏi vị trí ban đầu.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành thu giữ các vật chứng gồm:

- 01 chiếc áo khoác bằng vải màu đen, nhãn hiệu OUDILONG-FASHION có hai lớp vải, mặt ngoài đính 13 chiếc cúc bằng nhựa màu đen.

- 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong chứa 8,4663 gam tinh thể màu trắng và 02 túi ni lông màu trắng.

- 01 túi ni lông màu đỏ, mặt ngoài in dòng chữ “CHÚC MỪNG NĂM MỚI”, phần quai xách ở phía trên bị đứt.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 29K1-075.19

- 03 mảnh nhựa có kích thước lần lượt: 55x20cm, 26x10cm, 30x10cm, màu xanh bị vỡ nham nhở.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Sau khi tai nạn xảy ra, Nguyễn Đình T đã tác động nhờ gia đình thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 75.000.000 đồng. Nay đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.

- Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29K1- 075...của anh Võ Thế A, do bị cáo sử dụng gây tại nạn bị thiệt hại 460.000đồng, nay anh Võ Thế A không yêu cầu bị cáo bồi thường.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển kiểm soát: 29K1- 075…. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu ban đầu là anh Nguyễn Đại H, địa chỉ: Đường N, quận L, TP Hà Nội. Ngày 12/5/2012, chị Nguyễn Thị Song H (vợ anh H) bán chiếc xe này cho anh Nguyễn Thế A, địa chỉ: Số 382, đường H, thị trấn Yê, huyện G, TP Hà Nội. Sau đó anh A đã bán lại cho anh Võ Thế A, địa chỉ tổ dân phố 9, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng và hiện nay các loại giấy tờ xe và giấy mua bán xe đã bị mất. Vì vậy, hiện nay xác định anh Võ Thế A là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô này.

Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số: 40/CT-VKSCX ngày 08/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Nguyễn Đình T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a, c Khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử áp dụng Điểm a, c Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đình T mức án từ 30 đến 36 tháng tù; xử lý vật chứng và buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Kết luận định giá tài sản, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 21 giờ ngày 24/02/2019, Nguyễn Đình T, sinh ngày 11/8/2001 (Không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29K1-075..0, chở sau Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/3/2002 chạy trên đường Quốc lộ 1A, theo hướng từ Bắc vào Nam, khi đi đến Km 539+600, đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Cẩm T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, do không giảm tốc độ, nhường đường để đảm bảo an toàn khi có người đi bộ qua đường, nên đã đâm vào người bà Võ Thị L đang đi bộ qua đường từ trái sang phải theo hướng đi của T, trên làn đường xe cơ giới thứ hai (làn đường sát với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ) của phần đường bên phải. Hậu quả bà Võ Thị L bị chết trên đường đưa đi bệnh viện cấp cứu, xe mô tô biển kiểm soát: 29K1- 075...bị hư hỏng. Sau khi gây tai nạn T lái xe bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm và che dấu hành vi phạm tội của mình. Đến ngày 14/3/2019 biết sự việc bị phát hiện nên đến Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Hành vi của Nguyễn Đình T đã vi phạm Khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ và Khoản 6 Điều 5 Thông tư số 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 của Bộ giao thông vận tải và Khoản 9, Khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ quy định: “ Tại nơi có vạch kẻ đường giành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ qua đường” Khoản 6 Điều 5 Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31/12/2015 quy định:

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ thấp hơn tốc độ tối đa cho phép đến mức không nguy hiểm (có thể dừng lại một cách an toàn) trong các trường hợp sau:

6. Khi có người đi bộ qua đường.

Khoản 9, Khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định quy định:

Các hành vi bị nghiêm cấm:

9) Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.

17) Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm.

Hành vi trên của Nguyễn Đình T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm a, Điểm c, Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điểm a, c Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định: Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định. c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm”.

[3] Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo không tuân thủ quy định về an toàn giao thông, do không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn và không nhường đường cho người đi bộ qua đường khi có biển cảnh báo nguy hiểm, có vạch kẻ đường giành cho người đi bộ, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, thể hiện sự chủ quan, bất cẩn, coi thường pháp luật, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác, lỗi gây ra vụ tai nạn thuộc về bị cáo và chỉ một mình bị cáo thực hiện. Mặt khác, trước khi phạm tội này, bị cáo đã bị xét xử về tội cố gây thương tích. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để có tác dụng trừng trị, giáo dục, phòng ngừa chung và cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đều thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động nhờ gia đình bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại số tiền 75.000.000đồng, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn nhưng sau đó đã ra đầu thú, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Mặt khác, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đối với người phạm tội dưới 18 tuổi.

[4] Hành vi phạm tội lần này của bị cáo được thực hiện sau khi bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2019/HSST ngày 23/01/2019 (phạm tội mới trong thời gian Bản án 01/2019/HSST ngày 23/01/2019 đang bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm) nên bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đo, Hội đồng xét xử chỉ quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội lần này mà không tổng hợp hình phạt với bản án ngày 01/2019/HSST ngày 23/01/2019 như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.

4 Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động nhờ gia đình thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 75.000.000 đồng. Nay đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc áo khoác bằng vải màu đen, nhãn hiệu OUDILONG- FASHION có hai lớp vải, mặt ngoài đính 13 chiếc cúc bằng nhựa màu đen; 01 phong bì thư đã niêm phong, bên trong chứa 8,4663 gam tinh thể màu trắng và 02 túi ni lông màu trắng; 01 túi ni lông màu đỏ, mặt ngoài in dòng chữ “CHÚC MỪNG NĂM MỚI”, phần quai xách ở phía trên bị đứt. Các vật chứng này được tách chuyển theo vụ án “Vận chuyển trái phép chất ma túy” tại quyết định tách vụ án hình sự số 02/CSĐT ngày 19/7/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công án huyện Cẩm Xuyên nên không xem xét trong vụ án này.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 29K1- 075... bị cáo sử dụng khi phạm tội, chủ sở hữu là anh Võ Thế Anh, khi T sử anh Anh không biết nên cần trả lại cho chủ sở hữu.

- Đối với 03 mảnh nhựa có kích thước: 55x20cm, 26x10cm, 30x10cm, màu xanh bị vỡ nham nhở không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với anh Nguyễn Thế A chủ xe mô tô 29K1-075...là người để cho bị cáo sử dụng xe mô tô gây tai nạn. Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Thế A không có lỗi trong việc để cho Nguyễn Đình T (không có giấy phép lái xe) lấy xe đưa vào lưu hành gây tai nạn, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Đối với Hoàng Bá H là người giao xe mô tô 29K1-075...cho bị cáo điều khiển xe mô tô 29K1-075...gây tai nạn. Quá trình điều tra đã chứng minh khi giao xe Hoàng Bá H không biết Nguyễn Đình T không có giấy phép lái xe, nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Đối với Nguyễn Đình T, sinh ngày 23/3/2002 là người ngồi sau xe mô tô 29K1-075.19, biết rõ bị cáo gây tai nạn rồi đánh xe bỏ chạy nhằm trốn tránh trách nhiệm nhưng không khai báo. Tuy nhiên, hành vi này không cấu thành tội “Che dấu tội phạm” nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

- Đối với Tô Quang S, theo lời khai của bị cáo là người giao xe mô tô 29K1- 075...cùng với chiếc túi ni lon bên trong đựng chiếc áo khoác có chứa ma túy đá cho bị cáo để đưa vào huyện K giao cho người khác, nhưng hiện nay S không có mặt tại địa phương, không biết rõ đang ở đâu, vì vậy chưa lấy được lời khai nên chưa có cơ sở để kết luận, Cơ quan điều tra đã tách ra để điều tra xử lý là có căn cứ.

- Đối với hành vi của bị cáo liên quan đến việc vận chuyển trái phép chất ma túy. Do quá trình điều tra T khai nhận khi nhận đưa chiếc túi ni lon bên trong đựng chiếc áo khoác màu đen có chứa ma túy T không biết bên trong có ma túy và hiện nay Tô Quang S không có mặt tại địa phương chưa lấy được lời khai nên chưa có cơ sở để kết luận nên đã tách ra để điều tra xử lý sau là có căn cứ.

[7 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo, đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T (sinh ngày 11/8/2001) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm a, c Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 91, Khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự.

Xử phạt Nguyễn Đình T 32 (Ba hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 14/3/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho anh Võ Thế A 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển kiểm soát: 29K1-075.19; số khung 115377, số máy 115377.

- Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh nhựa có kích thước lần lượt: 55x20cm, 26x10cm, 30x10cm, màu xanh bị vỡ nham nhở.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Đình T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện gia đình bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


38
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về