Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN, TỈNH TN

BẢN ÁN 42/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 19 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 345/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm K, sinh năm 1977; (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Số 7x, Đường VTS, Khu phố X, Phường Y, thành phố TN, tỉnh TN; Chỗ ở hiện nay: Số 2D, Đường LT, Khu phố 2, phường LT, Quận TĐ, Thành phố HCM.

2. Bị đơn: Anh Lê Văn V, sinh năm 1978; (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)

HKTT: Thôn LNB, xã ĐT, huyện MĐ, tỉnh QN; Tạm trú: Số 7x, Đường VTS, Khu phố X, Phường Y, thành phố TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05-6-2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Diễm K trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V chung sống vợ chồng từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện MĐ, tỉnh QN. Quá trình chung sống thời gian đầu giữa hai vợ chồng hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên bất hòa, tranh cãi gay gắt, không ai hiểu ai, cuộc sống vợ chồng ngày càng nặng nề. Đến ngày 14-3-2019 thì chị K phát hiện anh V có quan hệ với người phụ nữ khác đã từ hơn hai năm nay, sau khi chị K phát hiện thì vợ chồng có cự cãi, anh V đánh và đuổi chị K về nhà mẹ ruột sống từ tháng 3-2019 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị K yêu cầu ly hôn với anh V.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Văn K, sinh ngày 20-8-2008. Hiện con chung đang sống cùng với chị K. Chị K xin nuôi con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Lê Văn V vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt. Tại Bản tự khai ngày 10-6-2019, anh V trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V chung sống vợ chồng từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện MĐ, tỉnh QN. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, tuy có cãi nhau nhưng không có mâu thuẫn gay gắt. Tuy nhiên do chị K có ghen với anh V nên bỏ về quê sống. Nay anh V còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn, anh xin đoàn tụ vợ chồng.

Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Văn K, sinh ngày 20-8-2008. Trường hợp nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh V đồng ý giao con cho chị K nuôi.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị K đối với anh V; Về con chung: Giao con chung tên Lê Văn K, sinh ngày 20-8-2008 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung, nợ chung: Chị K, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Chị Lê Thị Diễm K có yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh Lê Văn V tạm trú tại 7x, Đường VTS, Khu phố X, Phường Y, thành phố TN; Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN.

[1.2] Anh Lê Văn V vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh V là phù hợp theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V chung sống vợ chồng từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện MĐ, tỉnh QN là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh V: Chị K cho rằng vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn do sau khi chị K phát hiện anh V có quan hệ với người phụ nữ khác thì vợ chồng có cự cãi, anh V đánh và đuổi chị K về nhà mẹ ruột sống từ tháng 3- 2019 cho đến nay. Anh V cho rằng quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, không có mâu thuẫn gay gắt nhưng do chị K có ghen với anh V nên bỏ về quê sống. Như vậy, giữa chị K và anh V đã có phát sinh mâu thuẫn, anh V yêu cầu được đoàn tụ vợ chồng nhưng anh V không có biểu hiện, động thái tích cực và cũng không đưa ra được giải pháp nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhằm mục đích hàn gắn, đoàn tụ mối quan hệ vợ chồng giữa chị K và anh V. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị K và anh V không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị K, anh V không có khả năng đoàn tụ. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị K đối với anh V.

[3] Về con chung: Chị K, anh V có 01 con chung tên Lê Văn K, sinh ngày 20- 8-2008. Anh chị đều thống nhất trong trường hợp nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì giao con chung Lê Văn K cho chị K tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và sự thỏa thuận này là phù hợp với nguyện vọng của cháu K nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh V có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở theo quy định tại các Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về mức cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị K không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung: Ghi nhận chị K, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Về nợ chung: Ghi nhận chị K, anh V trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[7] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN phù hợp với nhận định của Tòa án nên chấp nhận.

[8] Về án phí sơ thẩm: Chị K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; anh V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của chị Lê Thị Diễm K đối với anh Lê Văn V. Chị Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung tên Lê Văn K, sinh ngày 20-8-2008 cho chị Lê Thị Diễm K trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung thành niên, tự lao động sinh sống được. Ghi nhận chị Lê Thị Diễm K không yêu cầu anh Lê Văn V cấp dưỡng nuôi con.

Anh Lê Văn V có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Ghi nhận chị Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Ghi nhận Lê Thị Diễm K và anh Lê Văn V không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Diễm K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị Lê Thị Diễm K đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0007121 ngày 05-6-2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN, tỉnh TN. Chị K đã nộp đủ án phí.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 15 kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


80
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 42/2019/HNGĐ-ST ngày 19/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:42/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tây Ninh - Tây Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 19/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về